VÒNG BẠC TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA CỦA ĐỒNG BÀO MÔNG NGHỆ AN

Tác giả: Lê Lan Hương
Ngày 2026-10-07 14:51:35

        Trong kho tàng văn hóa rực rỡ của 54 dân tộc anh em, trang sức dân tộc Mông nổi bật như một di sản nghệ thuật độc đáo, nơi bạc không chỉ là kim loại mà còn là linh hồn, là ngôn ngữ kể chuyện. Những món trang sức này không đơn thuần để làm đẹp, mà còn là biểu tượng của niềm tin, địa vị và là sợi dây kết nối con người với thế giới tâm linh của núi rừng.

Đồng bào Mông ở Nghệ An cũng như nhiều dân tộc khác, phụ nữ Mông đeo trang sức để làm đẹp và thể hiện những thông điệp liên quan đến cuộc sống riêng tư các nét họa tiết dân gian sinh động. Trang sức của họ thường được tạo ra từ các chất liệu bạc, nhôm, đồng như vòng cổ, vòng tay, nhẫn, xà tích nhưng nổi bật và độc đáo nhất là những chiếc vòng cổ được làm từ chất liệu bạc.

                      

Phụ nữ Mông ở Kỳ Sơn – Nghệ An đeo vòng bạc trong các dịp lễ Tết

(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)


          Đối với người Mông, bạc không chỉ đơn thuần là kim loại quý, mà còn là một sợi dây tâm linh kết nối giữa thế giới thực và cõi thiêng. Từ ngàn xưa, họ đã trao cho bạc một sứ mệnh thiêng liêng: trở thành lá bùa hộ mệnh để trừ tà, là vòng tay che chở để giữ trọn hồn vía cho con trẻ và là nguồn năng lượng mang lại sự bình an cho cả gia đình. Chính vì niềm tin sâu sắc ấy, những món trang sức bạc lộng lẫy nhất như vòng cổ, xà tích… không phải để đeo hàng ngày, mà được trân trọng dành riêng cho những khoảnh khắc trọng đại nhất của một đời người: trong ngày cưới, trong lễ hội hay khi trở thành của hồi môn người mẹ trao cho con gái.

Đối với người Mông, vòng cổ không chỉ là trang sức đẹp nhất, đặc sắc nhất mà còn là tài sản, thể hiện sự tôn trọng của cộng đồng dành cho họ. Bất kỳ gia đình người Mông, dù giàu hay nghèo đều cố gắng sắm được một chiếc vòng bạc. Chiếc vòng được xem như vật gia truyền, được truyền từ đời này sang đời khác. Người Mông khi túng thiếu có thể bán đi mọi thứ nhưng chiếc vòng cổ thì luôn được giữ lại như bảo vật của gia đình, đặc biệt là những gia đình nào có con gái, thì vòng cổ chính là của hồi môn để người con gái lấy chồng và góp phần củng cố vị thế của người con gái đó trong gia đình chồng.

Người Mông quan niệm, nếu không sắm được cho con gái chiếc vòng cổ khi đi lấy chồng thì cuộc sống vợ chồng không có ý nghĩa gì nữa, con gái mình sẽ gặp nhiều khó khăn và trong số của hồi môn của người con gái thì chiếc vòng cổ là quan trọng nhất vì nó thể hiện no ấm, đủ đầy của mỗi gia đình và dòng tộc. Đặc biệt, nếu hôn nhân không may đổ vỡ, theo “cái lý người Mông”, người con gái sẽ mang toàn bộ của hồi môn theo mình, để sau ly hôn người phụ nữ vẫn có cuộc sống ổn định. Ngoài ra, với người Mông, vòng cổ cũng chính là đặc điểm nhận diện của dân tộc, thậm chí họ cho rằng nếu không có vòng cổ chính là không phải người Mông.

                     

Cô dâu người Mông ở Kỳ Sơn trong ngày cưới

(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)

Như vậy, chiếc vòng cổ có vị trí quan trọng như thế nào trong đời sống hàng ngày cũng như đời sống văn hóa, tâm linh của đồng bào Mông ở Mường Lống, Kỳ Sơn. Trước đây, chiếc vòng cổ được xem là vật bất ly thân của họ, nó không chỉ được đeo trong những dịp lễ, tết, cưới hỏi, ngày vui… mà kể cả khi đi làm nương, làm rẫy, đi rừng, thậm chí đi ngủ họ đều mang bên mình. Vòng cổ thường được làm rất to và nặng, có thể làm từ 3-4 nén bạc, sau này vì nặng quá, đeo bất tiện người Mông làm nhỏ và nhẹ lại. Cũng do sự bất tiện nên ngày nay, người Mông chỉ đeo nó vào những dịp quan trọng, những ngày tết, lễ hay ngày vui hoặc đôi khi là kết hợp với trang phục truyền thống, riêng vòng cổ của người nam thì gần như không đeo nữa.

Vòng cổ của người Mông thường có chu vi từ 45 - 55 cm và được thiết kế không khép kín hoàn toàn để có thể dễ dàng đeo vào cổ. Ở hai đầu chiếc vòng được chạm khắc hình đầu chim mỏ dài, trong đó cái đầu và đôi mắt được khắc họa rõ nét nhất. Ngoài ra là các hình họa tiết phong phú khác như hoa văn hình hoa bí, hoa dưa, lá cây được tạo ở nhiều hình dáng khác nhau, hình núi, động vật… Các hoa văn được kết nối một cách linh hoạt, lồng ghép, chồng xếp, móc nối hài hòa và trải dài thành một hình vòng cung là họa tiết chính cho sản phẩm trang sức. Những họa tiết này biểu hiện cho sự biến chuyển của mặt trời, thời tiết, không gian và thời gian, trong vũ trụ quan cổ đại của người Mông. Trong đó, hoa văn hình xoáy trôn ốc là một trong những hoa văn trang trí quan trọng của dân tộc Mông. Ngoài ra, còn có các hoa văn được cách điệu hóa dưới dạng hình học, chủ yếu là: ô chéo, móc câu, hình vuông thủng, hình thoi, đường thẳng, đường dích dắc... Đây cũng là một nét đặc trưng về văn hóa của dân tộc Mông để phân biệt với người Mông đen, Mông hoa, Mông trắng...

Người Mông đặc biệt rất thành thục trong việc sắp xếp bố cục các hoa văn hình tròn, đường cong, hình vuông, hình xoáy trôn ốc hay các biến thể của nó, tạo nên đặc trưng dễ dàng nhận thấy của dân tộc này.

                     

Vòng cổ, trang sức của phụ nữ Mường Lống – Kỳ Sơn

(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)


          Những hình ảnh hoa văn trang trí đó thể hiện tư duy, trình độ thẩm mỹ và kỹ thuật của thợ làm trang sức. Đồ trang sức của dân tộc Mông chế tác hoàn toàn thủ công, do đó người thợ làm trang sức rất ít và hiếm, mỗi xã cũng chỉ có từ 1- 2 người. Quy trình làm một chiếc vòng cổ cũng khá kỳ công, mất nhiều thời gian và tùy thuộc vào kích thước, độ phức tạp của hoa văn, nhưng thông thường cũng phải từ 4 - 5 ngày. Người thợ đem nén bạc cho vào lò, nung chảy nguyên liệu với nhiệt độ thích hợp cho từng loại kim loại, sau đó tạo hình kim loại thành hai dạng cơ bản là: thanh vuông và tấm. Trong đó tạo hình thanh vuông để dùng kéo dây chỉ, dạng tấm tạo hình các kiểu dáng vòng cổ, hoa văn thì được chạm nổi, khắc chìm trang trí trên bề mặt…

Vòng cổ người Mông không chỉ là một món trang sức, mà là một lời tuyên ngôn. Một chiếc vòng cổ bản lớn, được chạm khắc cầu kỳ trên cổ người phụ nữ Mông trong ngày lễ hội là biểu tượng cho sự sung túc của gia đình, là niềm kiêu hãnh và là thước đo cho địa vị xã hội.

Trong đời sống tinh thần của người Mông, trang sức bạc đóng một vai trò không thể thiếu. Nó không chỉ là thước đo của sự giàu có, mà mỗi chi tiết còn thể hiện tình trạng hôn nhân, tuổi tác và địa vị xã hội của người đeo. Hơn thế nữa, người Mông luôn tin rằng bạc là kim loại quý có khả năng trừ tà, giữ hồn vía và mang lại bình an, đặc biệt là cho trẻ nhỏ. Một đứa trẻ Mông khi sinh ra thường được đeo cho một chiếc vòng bạc nhỏ, không phải để làm duyên, mà là một lời cầu chúc, một lá bùa hộ mệnh đầu đời. Vì vậy, mỗi món trang sức bạc không chỉ là vật trang trí, mà còn là một người bạn đồng hành, một vệ sĩ thầm lặng che chở cho chủ nhân.

 

                

Trai gái Mông vui hội xuân

(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)

Từng họa tiết, dù là nhỏ nhất, đều được chạm khắc một cách tỉ mỉ, không có hai sản phẩm nào giống hệt nhau. Chính điều này đã tạo nên giá trị “độc bản”, biến mỗi món trang sức thành một tác phẩm nghệ thuật có một không hai, chứa đựng câu chuyện của người làm ra nó.

          Chiếc vòng bạc của đồng bào Mông nói chung và ở Nghệ An nói riêng không chỉ đơn thuần là những món đồ làm đẹp, mà là những tác phẩm nghệ thuật mang đậm giá trị văn hóa, tín ngưỡng và là biểu tượng cho sự thịnh vượng, may mắn. Vẻ đẹp hoang sơ, mạnh mẽ cùng kỹ thuật chế tác trang sức thủ công đặc biệt của người Mông đã góp tạo tạo nên những di sản đặc sắc của quê hương.

 

Video