NHỮNG HIỆN VẬT “KỂ CHUYỆN” TOÀN QUỐC KHÁNG CHIẾN

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Ngày 2026-10-14 16:27:04

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, trước dã tâm xâm lược trở lại của thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Lời kêu gọi ấy vang lên như lời thề thiêng liêng của cả dân tộc: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến đã thổi vào lòng người dân Việt Nam một tinh thần thép, cháy lên lòng căm thù đối với thực dân Pháp của hàng triệu người Việt Nam, quyết hy sinh thân mình để giành lại độc lập dân tộc. Đây chính là yếu tố vô cùng quan trọng, là xuất phát điểm cơ bản cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tám mươi năm đã trôi qua, âm vang của lời kêu gọi ấy không chỉ còn lại trong những trang văn kiện, những trận đánh, những mốc son lịch sử, mà còn lặng lẽ hiện diện trong các hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ An – Xô viết Nghệ Tĩnh: một hũ gạo tiết kiệm, một chiếc áo trấn thủ bạc màu, những đôi dép cao su mòn gót.

 Những hiện vật tuy nhỏ bé, mộc mạc nhưng lại chứa đựng chiều sâu của ký ức dân tộc. Đó là ký ức về một thời toàn dân kháng chiến, khi mỗi gia đình là một hậu phương, mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi nắm gạo, đường kim, bước chân đều góp phần làm nên sức mạnh của cuộc kháng chiến trường kỳ. Qua đó, người xem có thể hình dung sâu sắc hơn về một giai đoạn đất nước vô cùng khó khăn, gian khổ nhưng cũng rất đỗi hào hùng; đồng thời cảm nhận rõ hơn hình ảnh Bác Hồ – vị lãnh tụ thương dân, sống giản dị, luôn đặt vận mệnh dân tộc và đời sống nhân dân lên trên hết.

Hũ gạo tiết kiệm – biểu tượng của lòng dân trong kháng chiến

Năm 1945, miền Bắc nước ta rơi vào nạn đói khủng khiếp khiến hai triệu người chết đói. Trên Báo Cứu quốc số 53, ngày 28/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào “Sẻ cơm nhường áo: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước và tôi xin thực hành trước. Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy thì những người nghèo sẽ có bữa rau bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”[1]. Lời kêu gọi của Bác đã nhanh chóng được nhân dân khắp nơi hưởng ứng. Nhà nhà đều đặt hũ gạo tiết kiệm. Mỗi bữa ai đong gạo nấu cơm đều bớt lại một nắm nhỏ bỏ vào hũ, rồi mang biếu tặng người thiếu đói. Từ phong trào cứu đói sau Cách mạng Tháng Tám, những hũ gạo tiết kiệm đã tiếp tục được duy trì, đi vào kháng chiến, trở thành biểu tượng của hậu phương bền bỉ, của tinh thần “người có ít góp ít, người có nhiều góp nhiều”, cùng hướng về tiền tuyến.

Tại Bảo tàng Nghệ An có trưng bày hũ gạo tiết kiệm của mẹ Liễu ở huyện Hưng Nguyên (cũ). Theo tư liệu, hũ được dùng để đựng gạo tiết kiệm ủng hộ kháng chiến trong suốt thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Hũ bằng sành, thân phình, thon dần về miệng, cổ cao, miệng tròn; trên thân có dòng chữ bằng vôi màu trắng: “Hụ gạo kc.”. Hũ đã bị nứt, được gắn lại bằng vôi và xi măng, phần miệng bị sứt một số chỗ.

Hũ gạo kháng chiến của mẹ Liễu

Hũ gạo tiết kiệm là hiện vật giản dị, là minh chứng cho sự hưởng ứng của nhân dân Nghệ An trước lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm và góp sức cho kháng chiến. Từ một hũ gạo nhỏ trong góc bếp mỗi gia đình, nhìn rộng ra là cả một hậu phương bền bỉ – nơi những người mẹ, người chị và biết bao người dân đã chắt chiu từng hạt gạo, âm thầm vun đắp nguồn lực cho tiền tuyến, góp phần làm nên sức mạnh của cuộc kháng chiến toàn dân.

Áo trấn thủ – hơi ấm hậu phương gửi ra tiền tuyến

Năm 1946, đất nước ta còn rất nghèo, cuộc sống vô cùng thiếu thốn, mùa đông ở miền Bắc rất khắc nghiệt. Trong bộn bề những lo toan về vận mệnh của nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn quan tâm đến những điều nhỏ bé, thiết thực nhất. Người đã phát động phong trào “Mùa đông binh sĩ”, kêu gọi nhân dân ủng hộ áo ấm cho chiến sĩ ngoài mặt trận. Điều cảm động là Bác đã đem chiếc áo len duy nhất của mình để góp vào cuộc vận động ấy. Đó là chiếc áo mà Bác đã mặc trong những năm đi tìm đường cứu nước. Nghĩa cử của Bác đã lay động biết bao trái tim, khiến nhân dân khắp nơi cùng chung tay góp sức, may nên hàng vạn chiếc áo ấm gửi ra tiền tuyến.

 

Áo trấn thủ của ông Dương Văn Trinh

Chiếc áo trấn thủ, ký hiệu V389, là hiện vật gắn với cuộc đời chiến đấu của ông Dương Văn Trinh, quê ở xóm Hạ Long, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, Nghệ An, nay thuộc xã Vạn An. Trong những năm tháng kháng chiến, chiếc áo đã theo ông qua nhiều chiến dịch và trận đánh, trong đó có các chiến dịch Thượng Lào, Quang Trung, Hòa Bình, Hoàng Hoa Thám và trận Hồng Cúm trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Năm 1947, ông Dương Văn Trinh gia nhập quân đội, thuộc Tiểu đoàn 265, Sư đoàn 304. Năm 1948, khi bộ đội chuẩn bị tham gia chiến đấu ở miền Tây Nghệ An, đoàn Phụ nữ Cứu quốc tỉnh Nghệ An đã mang áo trấn thủ lên trao tặng bộ đội. Trong đoàn có bà Nguyễn Thị Thanh, chị gái Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Áo được may bằng vải màu xanh cỏ úa bên trong có lót bông, đường may theo hình ô quả trám, chiếc áo có thiết kế đơn giản nhưng phù hợp với điều kiện chiến đấu và thời tiết khắc nghiệt. Từ hậu phương, những chiếc áo trấn thủ được gửi đến chiến trường không chỉ giúp người lính chống chọi với giá rét, mà còn là món quà chứa đựng tình cảm, sự sẻ chia và niềm tin của nhân dân đối với người chiến sĩ.

Với ông Dương Văn Trinh, chiếc áo đã trở thành một kỷ vật đặc biệt, đồng hành cùng ông qua những năm tháng chiến đấu. Trên những chặng đường hành quân gian khổ và giữa khói lửa chiến trường, chiếc áo không chỉ là vật dụng thiết thân giúp người lính chống chọi với giá lạnh, mà còn mang theo sự sẻ chia, chăm lo của hậu phương gửi đến những người lính đang chiến đấu nơi tiền tuyến.

Đôi dép cao su - “Đôi hài vạn dặm” và biểu tượng của sự khiêm nhường

Nói đến Bác Hồ, bạn bè quốc tế và nhân dân Việt Nam không thể quên hình ảnh đôi dép cao su giản dị – "đôi hài vạn dặm" theo Bác suốt 22 năm lịch sử (1947 - 1969). Đôi dép cao su ấy không chỉ là vật dụng cá nhân của Bác, mà đã trở thành biểu tượng chung cho tinh thần vượt khó của cả dân tộc.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh giản dị với đôi dép cao su. Ảnh ST

Đôi dép cao su đã trở thành biểu tượng của đôi chân Việt Nam – đôi chân vượt núi, băng rừng, gùi hàng, tải đạn, mở đường, phục vụ tiền tuyến. Tại Nhà trưng bày Bảo tàng Nghệ An có hai đôi dép cao su của hai người lính, dân công Nghệ An năm xưa. Đôi dép mang ký hiệu N14 là hiện vật của ông Võ Đức Điều, người đã sử dụng trong thời kỳ chống Pháp. Theo tư liệu, ông Điều tham gia bộ đội chống Pháp từ năm 1946, sau đó thuộc Trung đoàn 57, Đại đoàn 304. Tháng 12 năm 1951, ông bị địch bắt, giam tại Hỏa Lò và đảo Phú Quốc. Sau khi hòa bình lập lại, ông trở về quê ở xóm Hà Long, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn (nay là xã Vạn An) và giữ lại đôi dép làm kỷ niệm. Đôi dép ấy có một chiếc mòn gót, một chiếc đứt quai. Đó là hành trình từ làng quê ra mặt trận, đi qua những tháng ngày chiến đấu ác liệt trên chiến trường, trải qua những ngày bị tù đày gian khổ cho đến ngày trở về quê hương. Đôi dép là minh chứng cho ý chí và tinh thần bền bỉ của người lính Cụ Hồ. 

Đôi dép cao su của ông Võ Đức Điều

Đôi dép ký hiệu N15 của ông Phan Văn Thành xóm 6 xã Nam Nghĩa, Nam Đàn lại mở ra một câu chuyện khác về lực lượng dân công phục vụ chiến trường. Năm 1952, ông Thành dùng đôi dép cũ để đi dân công phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ. Vì đi bộ nhiều, trèo đèo, lội suối, đôi dép cũ bị đứt hết quai. Ông đã đổi một bát muối cho dân bản để lấy đôi dép khác tiếp tục vận chuyển hàng lên chiến trường. Sau này, từ năm 1967 đến 1968, ông tiếp tục dùng đôi dép ấy đi dân công làm đường mòn Hồ Chí Minh phục vụ kháng chiến chống Mỹ. Khi đất nước thống nhất, ông đã giữ gìn đôi dép làm kỷ niệm của cả hai cuộc kháng chiến.

 

Đôi dép cao su của ông Phan Văn Thành

Kỷ niệm 80 năm Ngày Bác Hồ ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” (19/12/1946 – 19/12/2026), trở về với những hiện vật bình dị đang được trưng bày phát huy giá trị tại Bảo tàng Nghệ An – Xô viết Nghệ Tĩnh, mỗi chúng ta như được sống lại những năm tháng hào hùng của dân tộc. Qua những hiện vật ấy, ta lại thấy hình bóng Bác Hồ hiện lên thật gần gũi mà lớn lao. Người đã khơi dậy và quy tụ sức mạnh của toàn dân, để từ những đóng góp bình dị ấy đã làm nên sức mạnh phi thường của cả dân tộc. Và hôm nay, giữa không gian bảo tàng, những hiện vật lặng im vẫn kể câu chuyện của một thời không thể nào quên – câu chuyện về lòng dân, về ý chí Việt Nam và về một chân lý mà dân tộc ta đã lựa chọn: độc lập, tự do là giá trị thiêng liêng không thể đánh đổi.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 4, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội 2011, trang 33.

Video