NHỮNG GIÁ TRỊ NỔI BẬT CỦA DI SẢN TRANH THÊU THỜI PHONG KIẾN TẠI BẢO TÀNG NGHỆ AN – XÔ VIẾT NGHỆ TĨNH

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh
Ngày 2026-09-21 09:27:18

 

        Trong lịch sử văn hóa Việt Nam, tranh thêu truyền thống hiện diện như một loại hình nghệ thuật gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng. Không chỉ là sản phẩm của lao động thủ công, tranh thêu còn là phương tiện chuyển tải tâm tư, tín ngưỡng, đạo lý và quan niệm sống của người Việt qua nhiều thế hệ.

Gắn liền với vai trò và phẩm hạnh của người phụ nữ trong gia đình truyền thống, thêu thùa từng được xem là một biểu hiện của nết na, đảm đang. Các sản phẩm như tranh treo, trướng thờ, hoành phi, câu đối, cửa võng không chỉ phục vụ nhu cầu thẩm mỹ mà còn góp phần kiến tạo không gian văn hóa, thể hiện đạo hiếu, gia phong và khát vọng về phúc lộc, bình an.

Tại các gia đình nho phong, đình chùa, nhà thờ họ, tranh thêu giữ vai trò quan trọng trong việc tạo dựng sự trang nghiêm, linh thiêng. Những đề tài phổ biến như Phúc – Lộc – Thọ, Phú – Quý – Trường – Xuân, Tùng – Hạc, Tứ linh phản ánh quan niệm sống cát tường, trường tồn và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên và vũ trụ.

Giá trị lịch sử – văn hóa qua một số hiện vật tiêu biểu

Sưu tập tranh thêu thời phong kiến tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh gồm 110 hiện vật quý giá. Đây là những hiện vật gốc, đa dạng về loại hình, phản ánh khá toàn diện diện mạo của tranh thêu truyền thống trong đời sống xã hội Việt Nam giai đoạn phong kiến muộn. Sưu tập này không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật độc bản mà còn là “cuốn sử bằng chỉ tơ”. Ghi lại những quan niệm về nhân sinh quan, hệ tư tưởng Nho – Phật – Đạo và khát vọng của cha ông về một cuộc sống thái bình, thịnh vượng. Việc đi sâu phân tích các giá trị là nhằm khẳng định vị thế của di sản thêu tay trong dòng chảy văn hóa xứ Nghệ. Mặc dù Nghệ An không phải là trung tâm thêu nổi tiếng như Quất Động hay Minh Lãng, song nghề thêu dân gian vẫn tồn tại bền bỉ tại các địa phương như Nam Đàn, Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Đô Lương – những vùng có truyền thống trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải.

Đặc trưng của tranh thêu xứ Nghệ thể hiện ở sự thanh đạm, mộc mạc nhưng tinh tế, không thiên về phô trương mà chú trọng chiều sâu biểu tượng. Điều này phản ánh rõ đặc điểm văn hóa vùng, nơi đề cao học vấn, đạo lý và lối sống tiết chế. Các hiện vật trong sưu tập không chỉ phản ánh đời sống tinh thần của từng gia đình mà còn là “tư liệu sống” giúp tái hiện không gian văn hóa – xã hội truyền thống, từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đến quan niệm giáo dục đạo đức và trật tự gia đình.

Tiêu biểu là tranh thêu Tùng – Hạc (ký hiệu BTNA 2953/V.130), thể hiện hình ảnh cây tùng lớn và chim hạc trong tư thế tĩnh – động hài hòa. Trong văn hóa truyền thống, tùng và hạc là biểu tượng của sự trường thọ, bền bỉ và khí tiết quân tử. Việc treo tranh này trong không gian thờ hoặc phòng khách cho thấy quan niệm sống hướng tới sự an lành, bền vững của gia chủ.

                                                             

                                                                    Tranh: Tùng – Hạc

Hay tranh thêu Công – Bướm – Hoa (BTNA 2956/V.133), với hình ảnh chim công đậu trên cành hoa, phía trên là các cánh bướm đang bay. Công tượng trưng cho phú quý, quyền quý; bướm và hoa gợi mùa xuân, sinh sôi và hạnh phúc. Hiện vật này thường được sử dụng trong không gian sinh hoạt gia đình, phản ánh ước vọng về cuộc sống sung túc và viên mãn.

                                                             

                                                                 Tranh: Công – Bướm - Hoa        

Đặc biệt, tranh thêu Trúc – Điểu, Cúc – Điệp (BTNA 2955/V.132) có thêu dòng chữ Hán ghi niên đại “Bảo Đại cửu niên Đông” (1935), là tư liệu quý giúp xác định thời gian, bối cảnh lịch sử và ảnh hưởng của Hán học trong xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thời phong kiến.

             

                                                               Tranh: Trúc – Điểu - Cúc – Điệp

Giá trị mỹ thuật thể hiện qua bố cục và biểu tượng

Giá trị mỹ thuật của tranh thêu thể hiện ở sự kết hợp hài hòa giữa bố cục, màu sắc và biểu tượng văn hóa. Bố cục tranh thường chặt chẽ, đăng đối; màu sắc được phối theo quan niệm ngũ hành, tạo cảm giác trang nhã và hài hòa.

Hệ thống biểu tượng trong tranh thêu mang ý nghĩa sâu sắc: tùng – hạc biểu trưng cho trường thọ; phượng – mẫu đơn biểu trưng cho phú quý, vương giả; hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết; chữ Hán thể hiện đạo lý và giáo huấn. Mỗi tác phẩm vì thế có thể xem như một “bản đồ biểu tượng”, phản ánh hệ tư tưởng và mỹ cảm của người Việt truyền thống.

Tranh thêu Tùng – Hạc – Liên – Điệp (BTNA 2960/V.137) là một ví dụ điển hình. Bố cục tranh được tổ chức theo trục dọc: phía trên là dòng chữ Hán, tiếp đến là chim én và bướm bay lượn quanh cây tùng lớn; phía dưới là hai chim hạc bên mặt nước. Cách sắp xếp nhiều lớp không gian tạo chiều sâu thị giác, đồng thời thể hiện quan niệm hài hòa giữa trời – đất – con người.                                                                                

                                                                     

                                                                 Tranh: Tùng – Hạc – Liên – Điệp

Trong tranh thêu Phú – Quý – Trường – Xuân (BTNA 2957/V.134), các chữ Hán lớn được thêu nổi, kết hợp họa tiết hoa lá và linh vật, tạo nên sự trang trọng và nhịp điệu thị giác rõ ràng. Đây là kiểu tranh thường được treo trong dịp năm mới hoặc sự kiện trọng đại, phản ánh rõ chức năng xã hội của nghệ thuật thêu.

                                                                        

Giá trị kỹ thuật qua đường kim mũi chỉ: Kỹ thuật thêu trong sưu tập phản ánh trình độ tay nghề cao của nghệ nhân xưa. Các kỹ pháp như thêu lướt vặn, thêu nổi, thêu bóng, thêu đắp, thêu chen màu,... được vận dụng linh hoạt để tạo nên hình khối, độ chuyển sắc và biểu cảm cho tác phẩm.

Những hiện vật như tranh Công - Mẫu đơn, Công - Trúc, Phượng - Mẫu đơn, Tùng - Hạc cho thấy khả năng xử lý tinh tế các chi tiết như lông chim, cành trúc, cánh hoa, sóng nước. Độ đều của mũi chỉ, sự mềm mại trong chuyển màu và cách tạo chiều sâu không gian khẳng định giá trị nghề nghiệp của nghệ nhân thêu truyền thống.

 

                                                                    

                                                                    Tranh: Phượng -  Mẫu Đơn                    

tranh thêu Ông Thọ (BTNA 2958/V.135), kỹ thuật thêu nổi được áp dụng để làm rõ hình khối khuôn mặt, râu tóc và trang phục nhân vật. Các chi tiết như quả đào tiên, cây gậy, áo bào được xử lý bằng kỹ thuật chuyển sắc, tạo cảm giác mềm mại và sinh động.

                                                                   

Trong bức trướng thêu “Đại gia văn chương” (BTNA 4570/V.306), kỹ thuật thêu chữ Hán lớn đòi hỏi độ chính xác cao, kết hợp với họa tiết lưỡng long chầu nguyệt phía trên và phượng chầu nguyệt phía dưới. Đây là minh chứng rõ nét cho trình độ kỹ thuật cao và sự công phu trong quá trình chế tác.

                                                                  

                                                             Trướng thêu: Đại gia văn chương

Giá trị sử dụng gắn với đời sống xã hội: Hoành phi, câu đối thêu chữ Hán, trướng thờ thêu tứ linh là những thành tố quan trọng trong kiến trúc thờ tự truyền thống. Các hiện vật này vừa mang chức năng trang trí, vừa có ý nghĩa biểu trưng, khẳng định gia phong, đức hạnh và sự tiếp nối đạo lý tổ tiên qua các thế hệ.

Trong giáo dục đạo lý và truyền thống những bức tranh như Vinh quy bái tổ, Mừng thọ, Phúc – Lộc – Thọ phản ánh rõ chức năng giáo dục của tranh thêu trong gia đình truyền thống. Thông qua hình ảnh và chữ viết, tranh thêu góp phần truyền tải các chuẩn mực đạo đức như hiếu học, kính lão, trọng nghĩa, giữ gìn gia phong.                       

Trong giao tiếp xã hội tranh thêu từng được sử dụng phổ biến như quà tặng trong các dịp trọng đại: cưới hỏi, lễ tết, mừng thọ, khánh thành. Mỗi tác phẩm là một thông điệp chúc phúc mang tính biểu tượng cao, thể hiện sự trân trọng và gắn kết trong quan hệ xã hội.

Trong nghiên cứu khoa học với hệ thống đề tài, biểu tượng và chữ Hán phong phú, sưu tập tranh thêu là nguồn tư liệu có giá trị cho nghiên cứu mỹ thuật học, dân tộc học, Hán – Nôm học, tôn giáo – tín ngưỡng và thiết chế xã hội truyền thống. Trướng thêu chữ Hán như BTNA 4570/V.306 được treo trong nhà thờ họ nhằm tôn vinh truyền thống học hành, đỗ đạt và gia phong.

                    

Như vậy, giá trị sử dụng của tranh thêu thời phong kiến không tách rời chức năng xã hội - tín ngưỡng - giáo dục trong cộng đồng.

 Giá trị giáo dục và nghiên cứu khoa học

Sưu tập tranh thêu thời phong kiến không chỉ là di sản của quá khứ mà còn là nguồn lực cho tương lai:

Nền tảng nghiên cứu liên ngành: Là căn cứ quan trọng cho các nhà Sử học, Dân tộc học và Mỹ thuật học nghiên cứu về bối cảnh đời sống phong kiến, quan hệ bang giao và sự phát triển của nghề thủ công truyền thống.

Cảm hứng thiết kế đương đại: Hệ thống hoa văn, mô típ trong sưu tập là kho tư liệu quý cho các nhà thiết kế thời trang (áo dài), đồ họa và nội thất hiện đại, giúp kết nối giá trị di sản vào đời sống kinh tế sáng tạo.

Giáo dục di sản: Thông qua trưng bày, sưu tập góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng, bồi đắp lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo tồn truyền thống cho thế hệ trẻ. Những bức tranh về chủ đề "Hiếu - Trung - Lễ - Nghĩa" là bài học trực quan sinh động về đạo lý làm người.

Trên cơ sở nhận diện đầy đủ các giá trị lịch sử, văn hóa, mỹ thuật, kỹ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học, Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh đã và đang triển khai nhiều giải pháp nhằm phát huy hiệu quả giá trị sưu tập tranh thêu. Các hoạt động trưng bày chuyên đề, giáo dục di sản, truyền thông số và liên kết với nghệ nhân, làng nghề góp phần đưa di sản đến gần hơn với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ. Những giải pháp này không chỉ phục vụ nhiệm vụ bảo tồn hiện vật mà còn góp phần duy trì và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống đương đại.

Sưu tập tranh thêu thời phong kiến tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh là một chỉnh thể di sản có giá trị toàn diện, phản ánh sinh động đời sống tinh thần, tín ngưỡng và thẩm mỹ của xã hội Việt Nam truyền thống. Mỗi đường kim mũi chỉ không chỉ tạo nên cái đẹp mà còn lưu giữ ký ức văn hóa và triết lý sống của nhiều thế hệ. Việc tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị sưu tập góp phần gìn giữ nghề thêu truyền thống mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh hiện đại hóa hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hồ sơ hiện vật Bảo tàng Nghệ An.

2. Nguyễn Thị Thu Hằng (2015), Nghệ thuật thêu truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa – Thông tin.

3. Đặng Văn Bài (2020), “Tranh thêu – biểu tượng văn hóa Việt trong dòng chảy di sản”, Tạp chí Di sản Văn hóa, số 2, tr. 34–39.

4. Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam. (2020). Tranh thêu truyền thống Việt Nam. NXB Văn hóa – Thông tin.

5. Đặng Thị Bích Ngọc (2020), “Phân tích kỹ thuật thêu truyền thống trong tranh dân gian Huế và Hà Đông”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 5, tr. 45–51.

 

Video