37
271
1481
72324
59843
7581514
Nghệ thuật Tuồng (Hát bội) là một hình thức sân khấu kịch hát truyền thống mang tính ước lệ, tượng trưng cao. Trong cấu trúc tổng thể của một vở diễn, trang phục không đơn thuần là y phục che thân hay phụ kiện biểu diễn, mà nó còn đóng vai trò là "ngôn ngữ thị giác" trực tiếp mã hóa địa vị xã hội, phẩm cấp, tính cách tâm lý và thần thái nhân vật. Tại Nghệ An, vùng đất Diễn Châu từng là một trong những trung tâm sinh hoạt tuồng dân gian sôi nổi vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Việc Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh tiếp nhận bộ trang phục Tuồng cổ từ gia đình bà Phạm Thị Nghị có ý nghĩa quan trọng, bổ sung vào kho hiện vật di sản sân khấu và mở ra những góc nhìn giá trị về kỹ nghệ may thêu truyền thống địa phương.
Diễn Thịnh (Diễn Châu) là vùng đất có truyền thống văn hóa dân gian khá phong phú. Trước đây, các gánh tuồng trong làng thường diễn hai loại hình chính: Tuồng thầy (Tuồng kinh điển, mang tính chính trị - triết lý cao) và Tuồng đồ (Tuồng dân gian, mang tính hài hước, châm biếm, gần gũi với đời sống sản xuất). Phong trào ca diễn tuồng tại đây gắn liền với các kỳ lễ hội làng, kỳ yên và hoạt động của các gánh tuồng tự nguyện. Hoạt động diễn tuồng cổ thường diễn ra vào các dịp cao điểm của làng xã những ngày đầu xuân năm mới, kỳ lễ hội đình làng, lễ Kỳ yên, hội cầu ngư hay các sự kiện mừng thọ, cúng vía của dòng họ. Khi tiếng trống tuồng vang lên giữa không gian tĩnh mịch của làng quê, đó cũng là lúc sinh hoạt văn hóa cộng đồng đạt đến độ thăng hoa nhất. Không gian diễn xướng mang tính linh hoạt cao từ sân đình, cửa chùa cho đến các rạp tạm dựng ngoài bãi trống. Sự tương tác giữa nghệ nhân và khán giả bình dân tạo nên một môi trường diễn xướng dân chủ, ấm cúng.
Để đưa một vở tuồng lên sân khấu dân gian, quy trình chuẩn bị đòi hỏi sự công phu và tự lực hoàn toàn từ phía cộng đồng. Từ khâu chọn kịch bản, phân vai, luyện tập từng làn điệu hát (nam, thán, oán, xướng), các bước đi đứng, tư thế vũ đạo cho đến khâu tạo hình nhân vật đều được các nghệ nhân tỉ mỉ uốn nắn.
Đặc biệt, điểm làm nên cái "hồn" của tuồng Diễn Thịnh chính là tinh thần tự thiết kế, mày mò làm trang phục và đạo cụ. Không có điều kiện mua sắm trang phục đắt tiền từ các trung tâm lớn, các nghệ nhân trong làng đã tự tay chọn vải, phối màu, tự may thêu từng nếp áo, đai yếm hay tự đẽo gọt các loại binh khí gỗ/tre. Niềm đam mê và tình yêu tuồng cháy bùng khiến họ coi mỗi bộ trang phục như một tác phẩm nghệ thuật trọn vẹn, dốc hết tâm huyết để hoàn thiện rồi nâng niu, cất giữ như tài sản gia bảo qua nhiều thế hệ.
Trong ký ức của người dân Diễn Thịnh, mỗi lần gánh tuồng đỏ đèn là một ngày hội. Từ người già đến trẻ nhỏ, cắp chiếu, xách đèn kéo nhau đi xem tấp nập, đông vui kín cả sân đình. Tiếng hò reo, tiếng khen chê theo từng nhịp trống tuồng đã trở thành một phần ký ức tuổi thơ thanh bình, ấm áp.
Tuy nhiên, trước làn sóng hiện đại hóa và sự bùng nổ của các hình thức giải trí kỹ thuật số, số phận của tuồng cổ đang đứng trước nhiều thử thách lớn. Những nghệ nhân gạo cội, các cụ cao niên từng sống hết mình với từng vai diễn nay người thì tuổi cao sức yếu, người đã lần lượt ra đi mang theo những ngón nghề, điệu hát cổ truyền. Trong khi đó, thế hệ trẻ ngày nay không còn mấy mặn mà với nghệ thuật tuồng; sự thiếu vắng lớp khán giả lẫn lực lượng kế thừa khiến các gánh tuồng dân gian dần vắng bóng.
Những trang phục của gia đình bà Phạm Thị Nghị có mốc niên đại hơn một thế kỷ, trải qua hành trình lưu truyền qua ba thế hệ (từ ông cố, truyền qua mẹ đẻ và đến bà). Bối cảnh lưu giữ này chứng minh tính liên tục, bền bỉ của di sản tuồng trong đời sống tâm linh, sinh hoạt cộng đồng của cư dân xã Diễn Thịnh (nay là xã An Châu, tỉnh Nghệ An).
Sưu tập gồm 08 hiện vật, thể hiện đầy đủ tạo hình cho các tuyến nhân vật kinh điển trong kịch bản Tuồng truyền thống:
+ Tuyến nhân vật Quân vương (Áo Vua): Sử dụng gam màu vàng lộng lẫy làm chủ đạo - màu sắc đại diện cho vương quyền tối cao. Thân áo thêu họa tiết rồng ngũ sắc (đỏ, xanh, trắng, đen) uốn lượn trải dài ra hai ống tay, kết hợp các hình tượng phượng hoàng và mây xanh, tạo nên một hệ thống biểu tượng gắn với không gian quyền lực. Đai thắt lưng đi kèm có chức năng hoàn thiện tổng thể trang phục, đồng thời góp phần định hình vóc dáng nhân vật.
Áo vua ký hiệu BTNA 7764/V.597

Đai thắt lưng
+ Tuyến nhân vật Tướng quân: Bộ trang phục gồm Áo dài Tướng quân (dài 114cm), Đai Yếm. Kỹ thuật chế tác ghi nhận sự kết hợp giữa may thủ công và chất liệu dệt thô dân gian. Mảng mỹ thuật trọng tâm nằm ở kỹ thuật thêu nổi kết hợp chần bông tạo độ nối khối cho mô-típ mặt Hổ phù (Thần cơ) ở vùng ngực và bụng áo, kết hợp họa tiết hoa mặt trời và mây ngũ sắc tạo nên vẻ mạnh mẽ, uy nghi, phù hợp với hình tượng người tướng lĩnh. Đai yếm (kích thước 55x26cm) thêu hình tượng mặt hổ lưỡi dài kèm họa tiết mũ nhiều màu. Kỹ thuật tạo khối này giúp nhân vật Tướng quân khi di chuyển hay thực hiện các động tác vũ đạo (trập, nhảy) tạo được hiệu ứng thị giác uy nghi, cuồn cuộn sức mạnh làm tôn lên khí phách dũng mãnh, uy nghi của bậc quan võ trên sân khấu.
Áo tướng quân ký hiệu BTNA 7762/V.595
Đai yếm tướng quân
+ Tuyến nhân vật Quan võ (Áo Quan võ & Khăn chít đầu): Áo có sắc đen làm nền (chiều dài 130cm), thêu rồng, hoa mặt trời và hình tượng chim loan phối cùng biểu tượng mũ quan cách điệu. Sắc đen đại diện cho tính cách bộc trực, dũng cảm, nghiêm nghị, kiên định và cứng cỏi của nhân vật. Khăn chít đầu đi kèm (đường kính 52cm) thiết kế hai dải rủ màu xanh viền tua rua vàng hai bên tai, tạo sự cân bằng và oai phong cho nhân vật khi di chuyển trên sân khấu, làm tăng tính biểu cảm chuyển động cho từng cú lắc đầu, chuyển hướng của diễn viên trên sân khấu.

Áo Quan võ ký hiệu BTNA 7766/V.599

Khăn chít đầu quan võ
+ Tuyến nhân vật Thái sư/Quan lão (Áo Thái Sư): Áo Thái Sư mang sắc đỏ trầm – biểu tượng của sự từng trải, uy nghiêm. Áo kết hợp họa tiết hoa màu xanh, phần nẹp vạt áo màu xanh nước biển. Sự phối hợp giữa đỏ trầm và xanh tạo nên sự khác biệt giữa áo Vua và áo Quan võ. Màu sắc không quá rực rỡ mà thiên về cảm giác trầm, tạo sự phù hợp với hình tượng nhân vật lớn tuổi, có vị trí và kinh nghiệm trong triều đình. Đáng chú ý là cấu trúc cổ áo may xé, có dây buộc lệch (khuy cài lệch) truyền thống của trang phục phương Đông cổ. Thiết kế này tạo nên phom dáng chững chạc, giúp diễn viên thể hiện trọn vẹn phong thái trầm mặc, thâm trầm của các bậc lão thần, mưu sĩ.

Áo Thái sư ký hiệu BTNA 7768/V.601
+ Tuyến nhân vật Lính/Hiệp khách (Áo Lính): Dáng áo ngắn (dài 57cm) sắc đen, trang trí 4 chữ Thọ, đính khuy giả hai bên hông và dải tua rua vàng xung quanh tà áo. Việc đưa chữ "Thọ" vào trang phục vai lính vừa mang ý nghĩa may mắn, vừa tạo điểm nhấn thị giác bắt mắt trên nền vải tối màu. Cấu trúc gọn nhẹ này phục vụ tối ưu cho các vai diễn yêu cầu sự linh hoạt, vũ đạo nhanh nhẹn, nhào lộn hay giao chiến.

Áo lính (Hiệp khách) ký hiệu BTNA 7769/V.602
Sưu tập trang phục tuồng cổ của gia đình bà Phạm Thị Nghị mang giá trị di sản đặc biệt. Một mặt, đây là sưu tập trang phục tuồng dân gian gốc có niên đại hơn một thế kỷ, phản ánh những đặc điểm về chất liệu, màu sắc, kỹ thuật cắt may, thêu và trang trí thủ công của các nghệ nhân ở vùng Diễn Châu vào khoảng đầu thế kỷ XX. Mặt khác, sưu tập còn giúp tái hiện một phần đời sống văn hóa cộng đồng, qua đó cho thấy sự tồn tại và quá trình duy trì, trao truyền nghệ thuật Tuồng dân gian tại vùng đất đất Diễn Thịnh qua nhiều thế hệ.
Sưu tập trang phục Tuồng cổ do bà Phạm Thị Nghị hiến tặng Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh là nguồn tư liệu hiện vật đặc sắc, phản ánh đậm nét nghệ thuật sân khấu truyền thống xứ Nghệ. Với niên đại hơn một thế kỷ được lưu giữ qua nhiều thế hệ, tập hợp hiện vật này không chỉ thể hiện kỹ thuật may thêu thủ công tinh xảo và tư duy tạo hình nhân vật đặc sắc, mà còn là minh chứng sinh động cho sức sống bền bỉ của di sản Tuồng dân gian tại vùng đất phủ Diễn xưa. Việc nghiên cứu, tư liệu hóa và bảo tồn bài bản sưu tập trang phục Tuồng cổ Diễn Châu không chỉ tôn vinh tài năng, tâm huyết của các nghệ nhân dân gian qua các thời kỳ, mà còn góp phần làm phong phú kho tàng di sản văn hóa xứ Nghệ trong dòng chảy văn hóa dân tộc.