35
271
1479
72322
59843
7581512
Giữa không gian bao la của núi rừng, khi những đóa hoa mơ, hoa mận bung nở trắng những triền đồi, cũng là lúc mùa xuân tìm về với bản làng. Tết của đồng bào các dân tộc miền núi vì thế không chỉ là khoảnh khắc đất trời giao hòa, mà còn là thời điểm con người trở về với gia đình, với bản làng và với những giá trị văn hóa đã được gìn giữ qua bao thế hệ.
Mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số ở miền Tây xứ Nghệ đều có một cái tết riêng. Nếu như đồng bào Mông vui đón Tết từ những ngày cuối tháng 10 (âm lịch) thì đồng bào Khơ Mú lại tổ chức ăn Tết cổ truyền (Tết Gơ rơ) vào cuối tháng 11 với nhiều nét riêng biệt, độc đáo.
Trên cả nước, đồng bào Khơ Mú sinh sống chủ yếu ở các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hoá... với hơn 70 nghìn người. Mặc dù địa bàn sinh sống phân bố rộng khắp, nhưng Tết Gơ rơ luôn được các bản làng Khơ Mú thành kính duy trì và phát triển. Cùng với đó, đây cũng là dịp để đồng bào, những người trong gia đình, họ hàng bản làng một năm đi làm ăn xa có dịp gặp gỡ nhau, vui chơi thỏa thích, thắt chặt tình đoàn kết để xây dựng cuộc sống ngày một ấm no.

Bản làng người Khơ Mú ở Nghệ An
(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)
Người Khơ Mú quan niệm rằng, mỗi năm có nhiều cái tết thì càng làm ăn phát đạt, khấm khá. Họ có thể tổ chức tết trong 1 hoặc vài ngày tùy theo điều kiện kinh tế. Tuy nhiên, để nói về tết chính của người Khơ Mú thì có 2 cái tết, đó là Tết Nguyên đán và Tết Gơ rơ. Trong cái tết Rơ rơ, có điều rất lạ là mỗi nhà đều có thể tự chọn một ngày làm lễ cúng mừng năm mới nhưng nhất nhất phải là những ngày cuối tháng 11 Âm lịch hằng năm. Và ngày Tết cũng chỉ kéo dài trong 1 buổi hoặc 1 ngày tùy vào số rượu cần mà gia chủ chuẩn bị được.
Đồng bào Khơ Mú ở Nghệ An vui uống rượu cần trong Tết Gơ rơ
(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)
Với đồng bào dân tộc Khơ Mú, rượu cần là thứ quan trọng để thể hiện năm vừa qua gia chủ có làm ăn phát đạt hay không và cũng là món đồ uống không thể thiếu trong mỗi dịp vui Xuân, đón Tết. Vì thế mà vào những ngày cuối tháng 11 Âm lịch hằng năm, các mẹ, các chị trong bản làng lại tất bật chuẩn bị vò rượu cần để đón Tết. Theo quan niệm của các già làng, rượu cần là thứ quan trọng, cùng với ý nghĩa kể trên thì mỗi một vò rượu còn là cách mà người Khơ Mú thể hiện lòng hiếu khách, nên mỗi gia đình dù khó khăn đến đâu cũng đều háo hức chuẩn bị từ năm đến bảy vò rượu, để tiếp đón khách tới chơi nhà trong ngày đầu năm. Đó cũng là lý do khách đến nhà đón Tết Gơ rơ cùng người Khơ Mú luôn được thưởng thức rượu cần trong mỗi bữa tiệc lớn nhỏ.
Lễ vật của người Khơ Mú trong ngày Tết nhất định phải có đủ một cặp gà gồm cả con trống và mái, một vò rượu cúng thần, một đĩa trầu cau. Nếu thiếu đi những một trong 3 thứ trên thì không thể thực hiện được nghi lễ của ngày Tết Gơ rơ. Mâm cơm cúng tổ tiên tưởng như có phần đơn giản nhưng lại cực kỳ chu đáo. Ngoài moọc là món ăn truyền thống không thể thiếu thì nhất định phải có thêm bí đỏ và sắn đã được đồ lên. Người Khơ Mú kể rằng, đây chính là món ăn tượng trưng cho sự no đủ và may mắn trong cả một năm mới. Nhiều năm gần đây, mâm cơm cúng ngày Tết còn có thêm cả cá nướng, thịt lợn và nhiều thực phẩm khác tùy theo nhu cầu của gia đình. Dù rằng thời gian tổ chức Tết Gơ Rơ chỉ kéo dài trong một buổi hoặc một ngày nhưng đây lại là ngày lễ quan trọng bậc nhất trong đời sống văn hóa của đồng bào Khơ Mú. Bởi thông qua đó con cháu nhớ ơn ông bà, tổ tiên và thần linh núi rừng.
Thầy mo hành lễ
(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)
Khi tổ chức, cả gia đình sẽ cùng mang rượu cần và gà sống lên căn bếp thiêng – nơi Thần Lửa cai trị và là nơi tổ tiên người Khơ Mú trở về. Người đàn ông có vị trí quan trọng trong nhà sẽ thực hiện nghi thức rót rượu cần đầu tiên để dâng lên thần linh. Khi dâng rượu phải thật thành tâm thì thần linh mới mang đến cho người Khơ Mú một năm mới mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Sau khi dâng rượu, cặp gà sống được chuẩn bị từ trước đó sẽ là linh vật dâng thần linh. Sau bài cúng, con gà đầu tiên được cắt mỏ lấy tiết. Người chủ lễ cầm cả con gà bôi tiết lên đầu gối cho từng người. Chủ lễ lấy tiết gà quệt theo chiều từ trên xuống dưới và khẩn cầu cho những điều không tốt đẹp của năm cũ hãy đi ra. Khi tất cả mọi người trong gia đình đã được làm nghi lễ này, một con gà khác được cắt mỏ lấy tiết. Lần lượt từng người lại được chủ lễ bôi tiết gà lên đầu gối. Lần này là chiều từ dưới chân lên đầu gối, kèm với câu khấn cho mọi điều tốt đẹp sẽ đến vào năm mới. Xong nghi lễ này người ta mổ cả 2 con gà làm mâm cúng mời tổ tiên về ăn tết. Những người có kinh nghiệm trong bản còn nhìn chân gà để đoán biết sự tốt xấu, dở hay trong năm mới.
Nghi lễ cắt tiết gà cầu an trong Tết Gơ rơ
(Ảnh: Kho tư liệu Bảo tàng Nghệ An)
Khi màn đêm đã bao trùm không gian làng bản, một lễ uống rượu cần và cúng tế nữa lại diễn ra. Trong mâm cúng, ngoài gà luộc còn có những thứ nông sản của người Khơ Mú như bí đỏ, bí xanh, đỗ rẫy… Lễ cúng kết thúc, những thành viên trong gia đình được chủ lễ chia cho mỗi người một ít thịt, ít xôi. Người được chia thường có động tác cúi đầu nhận sau đó chấm lên trán rồi mới bắt đầu đưa vào miệng để ăn. Sau lễ cúng này có nghĩa là gia đình đã sang một năm mới. Từ sáng sớm hôm sau cho đến hết ngày người ta không cho con gái lên nhà. Một người được gia chủ quý mến sẽ được mời xông đất vào sáng sớm hôm sau.
Dù Tết Gơ rơ không kéo dài, nhưng đây là một trong những lễ Tết quan trọng trong đời sống văn hóa của người Khơ Mú. Những nghi lễ truyền thống vẫn được gìn giữ, trao truyền qua các thế hệ, trở thành dịp để cộng đồng sum vầy, gửi trao lời chúc năm mới và bày tỏ niềm tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc./.