262
809
3139
54976
76341
7588990
Nghệ An tự hào là một trong ba trung tâm gốm sớm của Việt Nam. Đến nay, chưa ở đâu tìm thấy gốm đáy nhọn có niên đại cổ như trong văn hóa Quỳnh Văn. Và gốm đáy nhọn là sáng tạo độc đáo của cư dân vùng ven biển cổ xứ Nghệ từ hàng ngàn năm trước.
Dựa vào các di vật tìm thấy tại các địa điểm khảo cổ học kể từ khi M. Colani khai quật vào năm 1930-1931, cho đến nay đã hơn 95 năm phát hiện và nghiên cứu, các nhà khoa học khẳng định văn hóa Quỳnh Văn là một trong ba trung tâm gốm sớm ở Việt Nam. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự nảy sinh gốm ở ba trung tâm: Đa Bút, cái Bèo và Quỳnh Văn gắn liền với sự thay đổi về môi trường sống, phương thức kinh tế khai thác hải sản. Đó là đặc điểm của quá trình đá mới hóa vùng đồng bằng ven biển nước ta.
Ở Nghệ An, có đến 20/11 di chỉ thuộc văn hóa Quỳnh Văn phân bố trong vùng đồng bằng ven biển cổ Quỳnh Lưu. Đó là các di chỉ: Quỳnh Văn, Đông Hà Nam, Đông Hà Bắc, Gò Lẹp, Cồn Rờm, Rú Cửa Gan, Cồn Lò Ngói, Gò Trạm Xá, Gò Nhồi, Gò Lăng, Gò Trạm Máy Kéo, Cồn Chợ Mới, Gò Lạp Bắc, Cồn Tùng Điệp, Gò Ông Lựu, Cồn Đất, Cồn Nghĩa Trang, Gò Lạp Bắc, Cồn Đền, Cồn Hang Thờ.
Di vật trong các địa điểm văn hóa Quỳnh Văn bao gồm đồ đá, đồ xương, vỏ nhuyễn thể và đồ gốm, số lượng không nhiều. Trong các đợt thám sát và khai quật có quy mô của Viện Khảo cổ học thực hiện vào năm 1963 và 1964 và liên tiếp trong bốn năm từ 1978-1981 đã xác định có 799 hiện vật đá, 18 di vật xương – vỏ nhuyễn thể và 16.857 mảnh gốm thuộc văn hóa Quỳnh Văn. Phần lớn hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ( nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia). Tại Bảo tàng Nghệ An ( nay là cơ sở số 7 của Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh) trong số gần 100 hiện vật của văn hóa Quỳnh Văn thì đồ đá là chủ yếu, mảnh gốm có số lượng vô cùng ít ỏi.
Gần đây nhất là vào tháng 4/2025, trường Đại học Khoa học - Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) cùng các chuyên gia quốc tế đến từ Khoa Khảo cổ học và Nhân học, Đại học Quốc gia Australia tiến hành khai quật 2 hố với diện tích 18m2 tại di chỉ Quỳnh Văn và phát hiện nhiều tư liệu đáng chú ý. Tuy nhiên, do tư liệu, hiện vật đang trong quá trình nghiên cứu, chưa chuyển giao cho Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh nên chưa thể cập nhật thêm về số lượng.
1. Các loại đồ gốm trong văn hóa Quỳnh Văn
Về đồ gốm, dựa vào chất liệu, hoa văn, kiểu dáng, các nhà nghiên cứu chia làm bốn nhóm:
1.1 Gốm in dập nan rá, đáy tròn: được tìm thấy ở địa điểm Quỳnh Văn, Gò Lạp Bắc và Cồn Đất, huyện Quỳnh Lưu (cũ). Đây được xác định là loại gốm có chất liệu thô, bở nhất trong các loại gốm văn hóa Quỳnh Văn. Gốm làm từ đất sét pha cát và vỏ sò điệp vụn. Kiểu dáng đơn giản thuộc loại bản rộng miệng, mép vuốt mỏng sắc, bẻ lật ra ngoài, thân hơi thắt ở phần cổ và hơi phình ở phần đáy, đáy tròn. Chúng được nặn tay bằng phương pháp giải cuộn kết hợp bàn đập, hòn kê. Hoa văn trang trí mặt ngoài đơn giản, đều là văn in đập chồng chéo lên nhau kiểu nan rá. Loại gốm văn in đập nan rá đáy tròn có lẽ dùng làm đồ đựng hơn là đồ đun nấu bởi mặt ngoài không có vết ám khói đen như các gốm khác.

Hoa văn in đập kiểu nan rá
1.2 Gốm văn chải hai mặt, đáy nhọn:, chiếm 75% tổng số mảnh gốm được tìm thấy tại các địa điểm khai quật. Loại hình đơn giản là những nồi đun nấu hình nón đặt ngửa, miệng rộng, mép miệng vát mỏng, đường kính miệng 30-50 cm, đáy nhọn, thân cao 30-50 cm. Gốm làm từ đất sét pha sỏi vụn cùng vỏ sò điệp tán vụn, thổ hoàng và gốm tán vụn. Xương gốm dày ở phần thân. Đáy nhọn, khi vỡ ra có hình tròn đường kính trung bình 5-8 cm. Giữa mặt ngoài có đáy nhọn có một núm gắn vào với đường kính 1,2 -1,5 cm, cao 1-2 cm.
Gốm đáy nhọn được chế tạo theo phương pháp giải cuộn, miết, kê đập, chải hai mặt gốm. Riêng phần miệng được vuốt nhẵn mặt chừng 0,5-0,7 cm tính từ mép miệng. Hầu hết có vết ám khói có thể liên quan đến đồ đun nấu. Đáng chú ý, một số miệng gốm có khoét lỗ thủng rộng 3-5 mm, cách mép miệng từ 1,5 cm- 3 cm. Gốm đáy nhọn ở giai đoạn sớm ở Gò Lạp Bắc có chất liệu thô hơn, dày hơn và văn chải ít mang tính mỹ thuật hơn so với giai đoạn muộn hơn như ở Cồn Đất
Gốm văn chải hai mặt, đáy nhọn
1.3 Gốm văn thừng mặt ngoài, văn chải mặt trong, đáy tròn: có 5 mảnh và 01 nồi nguyên ở Cồn Đất. Nồi gốm thành mỏng, trong chải, ngoài thừng, đáy tròn.
1.4 Gốm văn thừng đáy tròn: chủ yếu ở Cồn Đất, các địa điểm khác ít. Chất liệu làm từ đất sét pha tinh thể thạch anh và các tạp chất khác với tỉ lệ cao hơn các gốm khác, do đó bở hơn các gốm khác Đây là những nồi đun nấu miệng loe, cổ thắt, bụng phình, đáy tròn, trang trí văn thừng từ vai trở xuống. Chúng được vặn tay, giải cuộn, kết hợp bàn đập, hòn kê và miết nhẵn.

Công cụ được ghè đẽo và gốm đáy nhọn, đáy tròn trong văn hóa Quỳnh Văn
2. Một số đặc trưng của gốm Quỳnh Văn
Trong văn hóa Quỳnh Văn, gốm đặc trưng điển hình nhất là loại gốm văn chải hai mặt, đáy nhọn. Chúng chiếm 75% tổng số mảnh gốm trong 4 di chỉ Quỳnh Văn, Gò Lạp Bắc, Cồn Đất và Phái Nam. Đây là loại gốm cứng, chắc, xương dày, dáng hình ngón ngược, đường kính miệng 30-50 cm, văn chải hai mặt từ đáy đến sát mép miệng, chức năng chủ yếu của nó là đun nấu.
Gốm văn chải hai mặt đáy nhọn xuất hiện vào giai đoạn sớm của văn hóa Quỳnh Văn cùng với loại gốm văn in dập nan rá đáy tròn. Với đặc điểm cứng chắc, kích thước lớn và đáy nhọn, loại gốm này tỏ rõ khả năng thích ứng với môi trường ven biển và phương thức kinh tế khai thác của cư dân Quỳnh văn. Có lẽ vì thế mà nó đã thay thế dần vị trí của gốm văn in hình nan rá và tồn tại đến giai đoạn muộn của văn hóa này
Gốm văn dập in đạp nan rá đáy tròng tuy số lượng không nhiều (7%) song chúng đặc trưng cho giai đoạn sớm của văn hóa Quỳnh Văn. Đó là loại gốm thô, bở, xương dày, pha nhiều loại sỏi sạn với loại hình miệng loe, mép nhọn, cổ thắt, bụng phình, đáy tròn, văn in dập mặt ngoài lên sát mép miệng, chức năng chính là đồ đựng. Loại gốm này xuất hiện từ địa điểm Quỳnh văn và kết thúc ở di chỉ Cồn Đất.
Gốm văn thừng đáy tròn có tỷ lệ 17,7% và tiêu biểu cho gốm muộn của văn hóa Quỳnh Văn. Đó là loại gốm cứng mỏng, chủ yếu là nồi gốm miệng loe, cổ thắt, bụng nở, đáy tròn, trang trí văn thừng từ vai đến đáy, còn từ vai đến miệng được miết nhẵn. Loại gốm này xuất hiện từ giai đoạn muộn của văn hóa Quỳnh Văn và có thể là tiền thân của loại hình văn hóa Thạch Lạc.
Bên cạnh ba loại gốm trên, trong văn hóa Quỳnh Văn có loại gốm “ trung gian” dưới góc độ chuyển tiếp về kỹ thuật và hình dáng từ loại gốm sớm sang gốm muộn. Đó là gốm thô khá cứng, trang trí văn thừng ở mặt ngoài và văn chải ở mặt trong, đáy tròn.
Các loại gốm kể trên là sản phẩm sáng tạo của chủ nhân văn hóa Quỳnh Văn. Nét nổi bật trong kỹ thuật chế tạo gốm văn hóa Quỳnh Văn là giải cuộn, kết hợp kê, đập, chải, miết để tạo hình và trang trí hoa văn mang tính kỹ thuật. Hầu hết gốm được tìm thấy trong văn hóa Quỳnh Văn là đồ đun nấu. Họ đã dùng các vật dụng gốm của mình để đem nấu chế biến các laoij hải sản chủ yếu là các loại nhuyễn thể đánh bắt từ biển. Trong đó loại hình đồ đun nấu văn chải hai mặt, đáy nhọn là đặc trung tiêu biểu nhất, tồn tại lâu dài nhất. Ở phương diện này, có thể xem gốm đáy nhọn là biểu trưng văn hóa độc đáo không chỉ riêng cho văn hóa Quỳnh Văn mà là chung cho các di tích văn hóa tiền sử vùng đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ của nước ta.
2. Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị
Các bộ sưu tập hiện vật văn hóa Quỳnh Văn, nhất là đồ gốm đang được lưu giữ tại các bảo tàng là nguồn tư liệu vật chất sống động. Thông qua các bộ sưu tập này giúp công chúng có thể hiểu sâu hơn về lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ và trình độ phát triển của đời sống cư dân thời tiền sử. Đây cũng là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu quá trình hình thành bản sắc văn hóa dân tộc ta nói chung, của xứ Nghệ nói riêng.
Tuy nhiên, việc bảo quản phục hồi, phục dựng và trưng bày phát huy giá trị các hiện vật gốm cổ tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh đang đối diện không ít khó khăn, thách thức.
Đầu tiên, phải kể đến, đó là do số lượng hiện vật gốm văn hóa Quỳnh Văn tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh vô cùng ít ỏi gồm 01 mảnh gốm và 01 đáy nồi thu được ở di chỉ Cồn Đất, xã Quỳnh Nghĩa, huyện Quỳnh Lưu (cũ); cùng một số mảnh gốm nhỏ, vụn được bàn giao năm 2024 bởi nhóm nghiên cứu do Tiến sĩ Nguyễn Hữu Mạnh, cán bộ khoa Lịch sử trường Đại học Khoa học và Nhân văn chủ trì cùng các chuyên gia Úc khai quật tại Đền Đồi, xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu năm 2019. Hoàn toàn không có một hiện vật gốm nào tương đối nguyên dạng.Với số lượng hiện vật ít ỏi như vậy thì rất khó có thể phục dựng, phục chế lại hình dáng ban đầu của đồ vật. Với đồ gốm nói chung nếu được phục dựng sẽ giúp công chúng thưởng ngoạn được kiểu dáng, màu sắc, hoa văn và công dụng của đồ vật. Từ đó hình dung được phần nào bức tranh về đời sống sinh hoạt của người tiền sử cách chúng ta hàng ngàn năm trước.
Mặt khác, với cơ sở hạ tầng, kinh phí, trang thiết bị còn hạn chế, đặc biệt việc thiếu hụt nhân lực được đào tạo có chuyên môn sâu về bảo quản, phục chế hiện vật cũng là một thách thách không nhỏ trong việc bảo tồn. Do đó, công tác trưng bày, phát huy giá trị các sưu tập hiện vật thời kỳ tiền sơ sử nói chung, hiện vật chất liệu gốm nói chung tại bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh còn đơn điệu, chưa hấp dẫn dù có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học.
Để phát huy giá trị các sưu tập gốm, nhất là gốm cổ trong văn hóa Quỳnh Văn cần phải có giải pháp về ứng dụng công nghệ phục dựng 3D các hiện vật gốm, nhất là gốm đáy nhọn – một đặc trưng riêng có của văn hóa Quỳnh Văn nhằm phục vụ các hoạt động trưng bày, truyền thông, giáo dục; Ứng dụng công nghệ VR để tái hiện không gian và đời sống lao động, sinh hoạt của người tiền sử. Đồng thời khai thác nguồn dữ liệu thông tin, hình ảnh và về quy trình chế tác gốm cổ để phục vụ các hoạt động nghiên cứu khác tại bảo tàng.
Phan Thị Hà Long
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Trung Chiến, Báo cáo khai quật địa điểm Cồn Đất ( Nghệ Tĩnh) 1980-1981,Tư liệu Viện Khảo cổ học
2. Nguyễn Trung Chiến, Văn hóa Quỳnh Văn và vị trí của nó trong thời đại đá mới Việt Nam, KCH số 3- 1991, tr.5-16
3. Hoàng Xuân Chinh, Báo cáo khai quật địa điểm Quỳnh Văn 1963-1964. Tư liệu Viện khảo cổ học
4. Nguyễn Văn Hảo, Báo cáo khai quật di chỉ Gò Lạp Bắc, Quỳnh Lưu, Nghệ An 1979. Tư liệu Viện Khảo cổ học
5. Chu Văn Vệ. Đinh Văn Mạnh, Phục dựng gốm tiền - sơ sử kinh nghiệm từ đợt phục dựng gốm Hòa Diêm 2011, Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia