239
324
2240
73083
59843
7582273
Về lịch sử tên gọi Nghệ An, từ thời Hùng Vương lập nước, Nghệ An thuộc đất Việt Thường, nhà Hán là huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân, nhà Ngô là Cửu Đức, nhà Đinh, nhà (Tiền) Lê gọi là Hoan Châu, lúc này Hoan châu thống lĩnh 4 huyện là Cửu Đức, Phố Dương, Việt Thường và Hoài Hoan. Theo sách Nghệ An ký, đến thời vua Lý Thái Tông năm Thiên Thành thứ 3 (1030), đổi Hoan Châu là Nghệ An. Tên gọi Nghệ An bắt đầu từ đây.
Với truyền thống và bề dày lịch sử hào hùng, vị thế, danh xưng Nghệ An đã được khẳng định và ghi chép khá thống nhất, toàn diện và sáng tỏ trong nhiều bộ chính sử, cũng như dư địa chí của các nước lân bang từ thời cổ đại đến cận đại, trong các thư tịch, văn bia và các công trình nghiên cứu từ xưa đến nay. Trong đó, mộc bản triều Nguyễn - Di sản Tư liệu Thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO vinh danh vào năm 2009 - hiện đang được lưu giữ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV (Đà Lạt) là nguồn sử liệu nguyên bản vô cùng quý giá, ghi lại một cách trung thực và hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử, địa lý, luật pháp, văn hóa cũng như bang giao của dân tộc ta, trong đó có những ghi chép về những dấu mốc hình thành vùng đất Nghệ An.
Trong đó Bộ sách Đại Nam nhất thống chí được biên chép một cách tổng quát và đầy đủ những việc, sự tích của các tỉnh, thành thuộc xứ Trung Kỳ (từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận) từ năm Thành Thái thứ 18 (1906) trở về trước. Sách gồm các mục: Phân dã (ranh giới), diện cách (quá trình hình thành và phát triển), hình thể, khí hậu phong tục, thành trì, học hiệu (trường học), hộ khẩu, điền phú (thuế ruộng đất), sơn tấn (đồn ải), dịch trạm, lý hộ (đường sá), bến đò, cầu cống, đê điều, chợ, nhân vật ( gồm có: Con có hiếu, liệt nữ, tăng thích…) và thổ sản của địa phương. Trong bộ sách này, ngoài những thông tin về địa lý, còn mang nhiều thông tin về lịch sử, kinh tế, chính trị, văn hóa, nghệ thuật. Đây là nguồn tài liệu quý báu cung cấp cho người đọc hiểu hơn về các tỉnh, thành.
1. Phiên bản Mộc bản sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, quyển 2, mặt khắc 4.
Đại Việt sử ký toàn thư hay còn gọi tắt là Toàn Thư, là bộ quốc sử viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời Kinh Dương Vương (năm 2879 TCN) đến đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê (1675)
Mộc bản sách Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 2, mặt khắc 4 nằm trong bộ sách Đại Việt sử ký toàn thư, ghi chép về sự kiện Vua Lý Thái Tổ cho đổi Hoan Châu làm trại, năm Canh Tuất (1010). Nội dung được lược dịch như sau: “ Đổi 10 đạo làm 24 lộ, Hoan Châu, Ái Châu làm trại”.

2. Mộc bản sách Đại Nam nhất thống chí, quyển 14, mặt khắc 2 ghi chép về sự kiện Vua Lý Thái Tông cho đổi Hoan Châu thành Nghệ An vào năm Canh Ngọ (1030). Nội dung được lược dịch như sau: “ Nhà Đinh phân làm đạo, nhà Lê đổi là lộ. Lý Thái Tổ năm Thuận Thiên nguyên niên đổi là trại. Thái Tông năm Thiên Thành thứ 3, đổi Hoan Châu là Nghệ An ...”

Đến tháng 11 năm Tân Tỵ (1041) vua Lý Thái Tông cử Uy Minh hầu Lý Nhật Quang làm Tri Châu Nghệ An.
Bước sang thời Trần, năm 1375, vua Trần Duệ Tông cho đổi Hoan Châu thành 4 lộ: Nhật nam, Nghệ An nam, Nghệ An bắc và Nghệ An trung. Năm 1379, vua Trần Thuận Tông lại cho đổi trấn Nghệ An thành trấn Lâm An.
3. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 76, mặt khắc 16.
Bộ Đại Nam thực lục là bộ quốc sử lớn nhất, quan trọng nhất của triều Nguyễn do Quốc Sử quán biên soạn. Bộ sử này được các sử thần nối tiếp nhau biên soạn và khắc in trong hơn 100 năm, từ năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đến đời vua Bảo Đại (1939). Đại Nam thực lục được viết theo thể biên niên, gồm hai phần Tiền biên và Chính biên.
Trong tấm Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ, quyển 76, mặt khắc 16 có ghi chép về sự kiện Vua Minh Mệnh cho đổi trấn Nghệ An thành tỉnh Nghệ An vào năm Tân Mão (1831). Nội dung được lược dịch như sau: “Chia định địa hạt các tỉnh…Nghệ An thống trị 9 phủ là Anh Sơn, Diễn Châu, Tương Dương, Quỳ Châu, Lạc Biên, Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Trấn Biên; 29 huyện là Nam Đường, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Chân Lộc, Đông Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Sơn, Vĩnh Hòa, Trung Sơn, Thúy Vân, Liên Huyện, Khâm Huyện, Tương Dương, Hội Nguyên, Quảng Huyện, Xôi Huyện, Mộc Huyện, Xa Hổ, Sầm Tộ, Khang Huyện, Cát Huyện, Cam Linh, Thâm Nguyên, Yến Sơn, Mộng Sơn, Man Soạn, Mang Lạn, Cam Môn, Cam Cát”.

4. Bản mộc bản Khâm Định Việt sử thông giám cương mục, quyển 21, mặt khắc 23.
Bộ sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục ( còn gọi tắt là Cương mục) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn từ năm 1856 đến 1884 dưới thời vua Tự Đức.
Tấm Mộc bản sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, quyển 21, mặt khắc 23 ghi chép về sự kiện Vua Tự Đức cho đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo và sát nhập vào tỉnh Nghệ An vào năm Quý Sửu (1853). Nội dung được lược dịch: “ Năm Tự Đức thứ 6 đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An”.

5. Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 54, mặt khắc 45.
Tấm Mộc bản sách Đại Nam thực lục chính biên đệ tứ kỷ, quyển 54, mặt khắc 45, ghi chép về sự kiện Vua Tự Đức cho tách đạo Hà Tĩnh ra khỏi tỉnh Nghệ An và lập thành tỉnh vào năm Ất Hợi (1875). Nội dung của tấm Phiên bản Mộc bản này được lược dịch: “ Lại lấy 3 đạo Quảng Trị, Phú Yên, Hà Tĩnh làm tỉnh. Tên quan đều vẫn như cũ, Quảng Trị, Hà Tĩnh là tỉnh vừa, mỗi tỉnh 1Tuần phủ, 1Án sát; Phú Yên là tỉnh nhỏ, 1 Bố chính, 1 Án sát, Đốc học mỗi tỉnh 1 viên”.

Mộc bản triều Nguyễn đã cung cấp nguồn sử liệu gốc vô cùng quý giá về các dấu mốc của tỉnh Nghệ An trong lịch sử. Nhận thấy tầm quan trọng đặc biệt này, năm 2025, Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh đã khảo sát và sưu tầm 05 phiên bản mộc bản liên quan đến danh xưng Nghệ An để phục vụ công tác trưng bày, phát huy giá trị. Đây là hoạt động thiết thực, góp phần gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống để xây dựng quê hương Nghệ An trở thành tỉnh phát triển như sinh thời Bác Hồ hằng mong muốn.