375
324
1323
38725
99872
7549951
Trong hoạt động quản lý nhà nước, con dấu (ấn chương và triện) giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không chỉ là vật chứng cho sự tồn tại của các đơn vị hành chính hay công cụ xác nhận văn bản mà còn là biểu tượng cho quyền lực hành chính và tính pháp lý của bộ máy quản lý nhà nước qua các thời kỳ. Nghệ An với vị thế là một "trọng trấn" có lịch sử văn hóa lâu đời, trải qua nhiều lần thay đổi về địa giới và danh xưng hành chính, đã hình thành và lưu lại một sưu tập con dấu vô cùng phong phú. Sưu tập con dấu hiện đang được lưu giữ, bảo quản, trưng bày tại Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh là một tập hợp đa dạng về loại hình, chất liệu và niên đại, phản ánh sự chuyển nối giữa các thể chế chính trị khác nhau trong lịch sử.
Hệ thống hiện vật gồm 708 con dấu các loại tại bảo tàng phản ánh một bức tranh toàn cảnh về bộ máy hành chính địa phương qua nhiều giai đoạn lịch sử, chuyển dịch từ chế độ quân chủ trung ương tập quyền thời phong kiến, qua các bước ngoặt cách mạng, đến giai đoạn xây dựng chính quyền nhân dân. Tính đa dạng và phong phú của bộ sưu tập bắt nguồn từ thực tế địa lý, chính trị của Nghệ An, một địa bàn rộng lớn với hàng nghìn đơn vị làng xã, thôn bản, nơi mà sự quản lý nhà nước luôn được thắt chặt thông qua các bộ luật nghiêm ngặt như luật Hồng Đức thời Lê hay luật Gia Long thời Nguyễn.
Dựa trên chức năng quản trị và tiến trình lịch sử, sưu tập con dấu này được phân chia thành các nhóm rõ rệt để làm rõ giá trị tư liệu của hệ thống hành chính phong kiến cũng như chính quyền cách mạng. Đầu tiên là nhóm con dấu chức danh phụ tá thời phong kiến chiếm số lượng lớn nhất với 417 chiếc, bao gồm 181 con dấu Hương bản, 184 con dấu Hương bộ và 52 con dấu Phó lý của các giáp, xóm, thôn, vạn, sách, phường, xã, phủ thuộc các huyện như Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên và Nghĩa Đàn. Tiếp theo là nhóm con dấu của cấp quản lý tổng và xã gồm 231 chiếc, bao gồm các loại dấu Chánh tổng, Phó tổng, Lý trưởng, Xã trưởng và dấu cấp thôn, xã của các huyện Thanh Chương, Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghĩa Đàn.
Sự chuyển dịch thể chế chính trị được đánh dấu rõ nét bằng nhóm con dấu thời kỳ 1930 - 1931 với 10 con dấu các loại, ghi dấu cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh và công tác tổ chức của Đảng. Kế thừa và phát triển sau đó là nhóm con dấu của chính quyền nhân dân sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 với 36 con dấu của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân và Ủy ban Hành chính các làng, tổng, cùng các ban chuyên biệt như Ban Văn hóa của Đoàn Thanh niên huyện Yên Thành hay Ban công tác đặc biệt vùng miền Tây Nghệ An tại Con Cuông, Cửa Rào, Mường Xén. Cuối cùng là nhóm 14 ấn, triện, con dấu chuyên biệt gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo như dấu dùng để đóng sớ của chùa Thiện Đàn ở Yên Thành, dấu của các gia tộc chức sắc và các con dấu làm bằng chất liệu ngà voi, sừng quý hiếm thời phong kiến.
Sưu tập con dấu tại Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh là nguồn sử liệu gốc có độ tin cậy tuyệt đối để xác minh sự tồn tại, biến chuyển và duyên cách của các địa danh, các đơn vị hành chính trong lịch sử địa phương. Thông qua nội dung văn tự khắc trên mặt dấu, người nghiên cứu thấy được sự hiện diện sinh động của các đơn vị hành chính cũ như phủ Anh Sơn, phủ Diễn Châu, phủ Nghĩa Đàn, hay các tổng cổ xưa như tổng Cao Xá, tổng Hoàng Trường, tổng Cổ Lãm, tổng Đặng Sơn, tổng Lộc Điền, tổng Hoàng Mai thuộc Quỳnh Lưu, tổng Nam Kim thuộc Nam Đàn.
Nhiều địa danh xuất hiện trong con dấu đến nay đã thay đổi, sáp nhập hoặc không còn tên gọi cũ trên bản đồ hành chính hiện đại. Điển hình như con dấu mang ký hiệu BTNA 3855/Kl.1408 là minh chứng lịch sử cho sự tồn tại của xã Thọ Lộc thuộc tổng Cổ Lãm xưa, vùng đất mà sau nhiều lần chia tách, sáp nhập nay đã trở thành xã Nghĩa Khánh, tỉnh Nghệ An. Tương tự, các hiện vật mang ký hiệu BTNA 4260/Kl.1813 khắc tên "thôn Bùi, tổng Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An", hiện vật BTNA 4255/Kl.1808 khắc "Anh Mỹ xã - Hải Đô tổng", hay hiện vật BTNA 3692/Kl.1245 khắc "Yên Thống thôn - Lý Trai tổng" là những cứ liệu xác thực giúp tái dựng lại sơ đồ phân bổ dân cư, ranh giới làng xã cũ mà các nguồn thư tịch cổ đôi khi ghi chép thiếu nhất quán. Sự thay đổi tên gọi từ cấp xã sang thôn, từ cấp tổng sang liên xã trong các giai đoạn lịch sử đều được lưu vết một cách rõ nét và khách quan trên những mặt ấn chương này.
+ Nhóm con dấu chức danh phụ tá ( Triệu Hương bản, Hương bộ, Phó lý): Đây là những con dấu đặc trưng cho việc quản lý làng xã. Loại dấu Hương bản dùng cho cấp thôn, bản, xóm hoặc các đơn vị cư trú nhỏ nhất trong xã. Trong sưu tập loại dấu này xuất hiện dày đặc tại các huyện như Nam Đàn (xã Trung Cần, Yên Lạc), Quỳnh Lưu (xã Phú Thanh, thôn Nhân Sơn), và Diễn Châu. Dấu Hương bộ (như hiện vật mang ký hiệu BTNA 4200/KL.1753 và BTNA 4202/KL.1755) có hình oval, kích thước 4,5x3cm, chuyên dùng để đóng trên sổ bộ, thuế khóa. Dấu Hương bản (như hiện vật ký hiệu BTNA 2932/KL.983) lại phụ trách các vấn đề tài chính của xã, thôn. So với Hương bản, dấu Hương bộ có tính pháp lý cao hơn trong hệ thống quản trị hành chính cấp xã thời Nguyễn, thường được dùng để đóng trên các sổ bộ quan trọng của làng xã (như sổ đinh, sổ điền). Dấu Phó lý là nhóm chiếm số lượng đáng kể trong danh mục sưu tập hiện vật con dấu đang có tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh (ví dụ hiện vật có ký hiệu BTNA 2832/KL.883 và BTNA 3816/KL.1369). Các con dấu này được cấp cho cấp Phó lý để giúp việc cho Lý trưởng. Đặc điểm chung của con dấu có hình vuông (kích thước 3x3cm), đúc bằng đồng, mặt dấu thường khắc 5 chữ Hán theo lối chữ Chân như "Yên Hậu thôn Phó lý" hoặc "Thượng Lâm giáp Phó lý". Các con dấu Phó lý (xã Thượng Lân, tổng Hoàng Mai) hay Hương bộ (xã Đức Hậu, tổng Kim Nguyên) được đúc bằng đồng cũng có hình vuông hoặc hình bầu dục (oval). Chức năng của chúng là làm cơ sở pháp lý giúp Lý trưởng thi hành việc quan, quản lý sổ sách địa phương, phản ánh sự phân hóa chức năng quản lý tài chính và sổ sách tại địa phương.
Sự hiện diện của các loại dấu như Hương bản (phụ trách tài chính), Hương bộ (phụ trách sổ sách) hay Phó lý (phụ tá hành chính) tại Bảo tàng Nghệ An – Xô Viết Nghệ Tĩnh cho thấy sự phân hóa chức năng quản lý cực kỳ chi tiết ngay từ cấp thôn, xã. Mỗi con dấu là hiện thân của quyền lực pháp chế, đảm bảo tính thực thi của pháp luật nhà nước tại địa phương. Chất liệu (chủ yếu là đồng) và kỹ thuật đúc, khắc thủ công tỉ mỉ khẳng định tính chính thống và sự nghiêm cẩn trong việc ban hành ấn chương của triều đình.

Sưu tập con dấu trong không gian trưng bày tại Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ tĩnh.
+ Nhóm con dấu của tổng, chánh tổng, phó tổng, thôn làng xã: Trong xã hội phong kiến Việt Nam (đặc biệt là triều Nguyễn), hệ thống con dấu được quy định rất nghiêm ngặt, thường bằng đồng hoặc gỗ, hình vuông, khắc chữ Hán (triện) tên tổng và chức danh "Cai tổng ấn" ,"Chánh tổng ấn" hoặc“ Phó tổng ký” như các hiện vật mang ký hiệu BTNA 4201/Kl.1754 của chánh tổng tổng Thanh Viên, Quỳnh Lưu, hiện vật mang ký hiệu BTNA 3839/Kl.1392 của phó tổng ký, tổng Nghĩa Hưng, Nghĩa Đàn, hình vuông kích thước 3x3cm, hay hình oval với nhiều kích thước 5x3cm, 4,5x3cm. Thời kỳ này, con dấu không chỉ là công cụ hành chính mà còn là vật tượng trưng cho "thân phận" và "đẳng cấp" trong bộ máy cai trị. Với chức năng sử dụng con dấu để quản lý nhân khẩu và đất đai. Con dấu đóng vào sổ đinh (người) và sổ điền (đất) để triều đình nắm quyền kiểm soát. Các văn tự mua bán đất "chính chủ" buộc phải có dấu của Lý trưởng mới có giá trị. Con dấu là sự đảm bảo rằng số tiền/lúa gạo đã được thu và nộp đúng quy định, tránh gian lận của các quan lại trung gian. Chánh tổng chịu trách nhiệm giám sát làng xã thu thuế, đinh điền, trị an. Con dấu của Phó tổng (Phó cai tổng): Hỗ trợ Chánh tổng trong việc quản lý và thay mặt Chánh tổng khi vắng mặt.
Con dấu của thôn, làng, xã (Lý trưởng, Xã trưởng) thường được dùng để đóng lên các văn bản như: bản đồ ruộng đất, sổ đinh, giấy đi đường, văn tự chuyển nhượng đất đai trong làng. Lý trưởng thường là người cầm dấu này để giải quyết "một cổ hai tròng" giữa dân và quan. Các con dấu của cấp thôn, xã tại Nghệ An thường khắc tên địa danh kèm theo chức vụ như "thôn Bùi, tổng Hải Đô, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An” hiện vật mang ký hiệu BTNA 4260/Kl.1813. “Anh Mỹ xã - Hải Đô tổng" hiện vật mang ký hiệu BTNA4255 /Kl.1808, "Yên Thống thôn - Lý Trai tổng" hiện vật mang ký hiệu BTNA 3692/Kl.1245 có hình chữ nhật, kích thước 4x2cm .
Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh giai đoạn 1930 - 1931 là một mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu thời điểm quần chúng công nông dùng bạo lực cách mạng làm lung lay, tan rã bộ máy chính quyền thực dân, phong kiến ở hầu hết các thôn, xã tại Nghệ An và Hà Tĩnh. Lần đầu tiên, giai cấp bị áp bức bước lên vũ đài chính trị để làm chủ bản thân và tự quyết các vấn đề đời sống xã hội. Để khẳng định quyền lực của nhân dân và chấm dứt sự thực thi pháp luật của chế độ cũ, chính quyền Xô viết dưới hình thức các Nông hội đỏ đã tịch thu và buộc các chức dịch địa phương phải giao nộp ấn triện, tạo nên một bộ bằng chứng lịch sử gốc vô giá về sự đầu hàng của chính quyền cũ trước sức mạnh của quần chúng. Tiêu biểu cho nhóm này là con dấu bằng đồng của Lý trưởng Chi Phan, thuộc xã Thạch Tiến, nay là xã Việt Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, mang ký hiệu BTXV 540/KL.165, triện của Phó lý làng Quang Lãng, thuộc tổng Cát Ngạn, nay thuộc xã Thanh Tiên, tỉnh Nghệ An, mang ký hiệu BTXV 216/KL.43, triện của hào lý làng Bùi Chu, tổng Hải Đô, phủ Hưng Nguyên, nay thuộc xã Yên Trung, tỉnh Nghệ An mang ký hiệu BTXV 240/KL.58, triện đồng của hào lý huyện Diễn Châu mang ký hiệu BTXV 241/KL.59, con dấu của Lý trưởng Nguyễn Văn Biên thuộc tổng Đặng Sơn, phủ Anh Sơn, nay thuộc xã Anh Sơn, tỉnh Nghệ An mang ký hiệu BTXV 661/KL.196.
Đối lập với hệ thống quan ấn bị lật đổ là nhóm con dấu của các tổ chức tiền thân và cơ sở bí mật của Đảng, được chế tác để khẳng định tính tổ chức, quản trị nghiêm mật trong hoạt động bí mật. Chiếc ấn hình tròn bằng gỗ có đường kính 4 cm của Đảng Tân Việt mang ký hiệu BTXV 334/KL.94 là một tư liệu quý hiếm, phản ánh giai đoạn chuẩn bị về mặt tổ chức trước năm 1930 để tiến tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghệ An. Tiếp nối mạch ngầm đó, con dấu hình tròn đường kính 3,5 cm mang ký hiệu BTXV 821/KL.265 tuy vốn thuộc về một cơ sở sản xuất kinh tế tư nhân là xưởng gỗ của gia đình ông Hoàng Thế Thiện ở xã Lưu Sơn cũ, nay là xã Đô Lương, nhưng lại mang sứ mệnh lịch sử trọng đại khi được sử dụng làm vỏ bọc nuôi giấu cán bộ và làm đầu mối liên lạc bí mật của Đảng thời kỳ khôi phục phong trào sau khủng bố trắng năm 1933.
Sưu tập con dấu (triện) thời kỳ này còn được thể hiện rõ qua sự song song tồn tại của hệ thống triện ấn cấp cao, đó là sự đối lập quyền lực pháp chế trên cùng địa bàn hành chính. Một bên là Triện của Tri phủ huyện Quỳ Châu (ký hiệu BTXV 792/X.13, kích thước 3x 5 x3 cm, dùng trong các năm 1930 - 1931 tại địa bàn miền núi để tăng cường kiểm soát. Một bên là Triện của Tuần phủ Ấn sát Hà Tĩnh (ký hiệu BTXV 453/X.9, kích thước 2,5 x 2,5 x 3cm được thực dân Pháp và triều đình phong kiến ban hành tăng cường đóng trên các sắc lệnh, văn bản hành chính dùng để "đàn áp phong trào cách mạng" trong những năm 1930 - 1931.
Hơn thế nữa, dòng chảy pháp chế và tinh thần yêu nước tại Nghệ An thời kỳ này còn được kết nối sâu sắc với giai đoạn trước đó thông qua các hiện vật như Dấu (Ấn Ngà) của cụ Phan Đình Phùng (ký hiệu BTXV 242 / X.3, kích thước 3 x 3cm, sử dụng trong phong trào Cần Vương chống Pháp (1885 - 1896) chứng minh phong trào không bộc phát ngẫu nhiên mà là sự tiếp nối ở các thế hệ đi trước.


Sưu tập con dấu thời kỳ 1930-1931 tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh
+ Nhóm con dấu Trưởng ban thường trực/Trưởng ban chính : Đây là loại dấu cá nhân gắn liền với chức vụ cụ thể của người đứng đầu các ban. Các hiện vật như "Dấu của Trưởng ban thường trực xã Hữu Biệt" hiện vật mang ký hiệu BTNA 4292/Kl.1845 hay "Trưởng ban Ban Chính thôn Quang Trạch” hiện vật mang ký hiệu BTNA 3662/Kl.1215 minh chứng cho việc cá nhân hóa trách nhiệm trong quản lý chính quyền mới. Phản ánh sự ra đời của các Ban thường trực trong cơ cấu chính quyền địa phương ngay sau Cách mạng tháng Tám. Con dấu này thay thế cho hệ thống lý trưởng, hương bản cũ, thực hiện nhiệm vụ điều hành công việc hành chính và bảo vệ thành quả cách mạng tại địa phương. Đây là một loại hình con dấu đặc thù, cấp cho người đứng đầu các tổ chức thường trực tại địa phương (như thôn Phù Long, thôn Đông Vương - Diễn Châu; thôn Đắc Nam - Nam Đàn, ban thường trực xã Nhân Tháp, xã Xuân Hòa Nam Đàn). Các con dấu này thường có hình vuông, kích thước 3cm x 3cm, được khắc nổi 9 chữ Hán theo lối chữ chân, dùng cho người đứng đầu các tổ chức thường trực tại địa phương để theo dõi và giải quyết công việc hành chính thường xuyên tại đơn vị cư trú.
+ Nhóm con dấu của Chủ tịch Uỷ ban hành chính, Uỷ ba nhân dân (UBHC, UBND): Con dấu của Chủ tịch Ủy ban Nhân dân (UBND) và Ủy ban Hành chính (UBHC) xuất hiện trong những năm 1945-1946 các hiện vật mang ký hiệu BTNA 4271/Kl. 1824 hình ô van, có kích thước 4,5x3cm, 5x3cm và hiện vật mang ký hiệu BTNA4404/Kl.1957 hình lục giác có kích thước 6x2cm, thể hiện quyền lực nhà nước tại địa phương. Nó được dùng đóng dấu xác nhận các loại giấy tờ: Chứng thực, tư pháp, hộ tịch, giấy phép xây dựng, văn bản hành chính. Loại con dấu này pháp nhân thể hiện ý chí của cơ quan nhà nước, có giá trị pháp lý tuyệt đối khi đứng tên Chủ tịch UBND. Khi con dấu đóng xuống, Nhà nước chịu trách nhiệm về nội dung bên trong. Loại Dấu này đại diện cho quyền lực của nhân dân, điều này khác hẳn với thời phong kiến (thường gắn liền với trách nhiệm cá nhân của Lý trưởng).
+ Nhóm con dấu chuyên biệt và Tín ngưỡng tôn giáo thời kỳ cách mạng và sau 1945: ghi nhận sự chuyển dịch về thể chế thông qua các con dấu của chính quyền nhân dân và các tổ chức đoàn thể. Nhóm này phản ánh các hoạt động đặc thù về an ninh, vùng miền và đời sống tinh thần sau khi giành được chính quyền về tay nhân dân trong giai đoạn 1945-1954. Tiêu biểu là con dấu của Ban công tác đặc biệt vùng miền Tây Nghệ An (Con Cuông, Cửa Rào, Mường Xén ) hiện vật mang ký hiệu BNTA4402 /Kl.1955 hay các con dấu của chính quyền lâm thời sau tháng 8/1945 “ban văn hóa” của đoàn thanh niên huyện yên Thành mang ký hiệu BTNA 4372/Kl.1925. Ngoài ra còn có con Dấu dùng để đóng vào sớ của chùa Thiện Đàn (Yên Thành)" mang ký hiệu BTNA3393 /G.138 được làm bằng gỗ. Loại dấu này thể hiện vai trò của ấn triện trong đời sống tâm linh, dùng để xác thực các văn bản sớ điệp, khẳng định tính linh thiêng và thẩm quyền của cơ sở thờ tự.
+ Nhóm con dấu được làm bằng Ngà voi/Sừng : Đây là nhóm hiện vật có giá trị mỹ thuật và lịch sử cao nhất, thể hiện phẩm hàm và địa vị của người sở hữu trong bộ máy các quan lại dưới thời phong kiến thế kỷ XIX -XX như các hiện vật mang ký hiệu BTNA3462/XS.58 được làm bằng ngà voi dáng hình thang cân có 6 mặt, kích thước cạnh mặt dưới: 2,8cm x cạnh mặt trên: 2,2cm x cao: 3,2cm và BTNA 3465/XS.61 được cưa khắc từ sừng tạo dáng hình trụ, đường kính mặt triện: 2,5cm x đường kính mặt trên: 2,2cm x cao: 3,4cm. Ngoài ra, còn có dấu của các gia tộc có chức sắc (như con dấu của dòng họ Trần được làm bằng đá màu trắng) mang ký hiệu BTNA 3520/Đ.921.
Sưu tập và mỗi hiện vật trong sưu tập là những tài liệu lịch sử giúp chúng ta hiểu thêm về hệ thống tổ chức bộ máy của chế độ phong kiến Trung ương tập quyền trước Cách mạng tháng 8/1945 từ cơ sở nhỏ nhất giáp, sách, vạn, phố, đến thôn, làng, xã, tổng, huyện, phủ. Sưu tập cũng cho chúng ta biết được quyền lực pháp chế của nhà nước và biết rõ về chức danh, vai trò, vị trí của các quan lại chức sắc trong bộ máy hành chính đương thời ở cấp cơ sở. Đây là những cứ liệu xác thực minh chứng sự duyên cách địa lý, địa danh của một số vùng trong xã, huyện trong lịch sử; là nguồn sử liệu quan trọng, đáng tin cậy trong nghiên cứu lịch sử địa phương.
Mỗi con dấu trong sưu tập là một "chứng chỉ" về quyền hạn pháp lý. Việc phân cấp con dấu từ cấp phủ, huyện xuống đến thôn, giáp cho thấy một hệ thống quản lý chặt chẽ và nhất quán. Các con dấu không chỉ dùng cho mục đích hành chính mà còn xuất hiện trong các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng như dấu dùng tại chùa Thiện Đàn - Yên Thành, hiện vật BTNA 3393/G.138, thể hiện sự hiện diện của quản lý nhà nước trong mọi mặt của đời sống xã hội, là bằng chứng về sự tồn tại của một đơn vị hành chính hoặc một chức danh quan lại cụ thể. Đối với chính quyền phong kiến, việc ban hành và thu hồi con dấu được quy định cực kỳ chặt chẽ nhằm khẳng định tính chính thống và quyền sở hữu tối cao của nhà nước. Các hiện vật như ấn triện của quan tri phủ, tri huyện hay các chức danh tại tổng, xã tại Nghệ An cho thấy một hệ thống quản lý thứ bậc nghiêm ngặt.
Giá trị của sưu tập con dấu còn nằm ở khía cạnh tư liệu lịch sử về biến thiên địa danh. Nghệ An là vùng đất có sự thay đổi địa giới hành chính rất phức tạp, từ các tên gọi cổ xưa của các tổng, xã đến việc chia tách, sáp nhập các huyện, thị trong thời kỳ hiện đại. Sưu tập con dấu chính là nguồn sử liệu gốc tin cậy nhất để xác minh sự tồn tại của các địa danh trong quá khứ.
Con dấu đã chuyển dịch từ công cụ để "kiểm soát nhân dân" sang công cụ để "quản lý công dân" và thực thi pháp luật. Trong lịch sử, việc mất con dấu của một làng thường được coi là đại họa (mất quyền tự trị), còn ngày nay, con dấu là công cụ để cụ thể hóa các quyền lợi của người dân trên giấy tờ.
Bên cạnh giá trị lịch sử, sưu tập còn mang hàm lượng giá trị mỹ thuật và kỹ thuật chế tác cao. Qua sưu tập, chúng ta cũng hiểu biết được kỹ thuật chế tác như đúc, khắc; trình độ, quy tắc, hình thức thể hiện từ kiểu dáng, kích thước, trọng lượng, chất liệu đến văn tự thể hiện của từng loại con dấu. Sưu tập con dấu đa dạng từ hình vuông, hình chữ nhật đến hình bầu dục, phù hợp với thẩm mỹ và mục đích sử dụng của từng loại chức danh. Các con dấu phong kiến thường được làm bằng đồng, gỗ quý hoặc ngà, với kỹ thuật khắc chữ Hán theo các lối chữ Triện, chữ Chân vô cùng tinh xảo. Bố cục mặt dấu thường tuân thủ nguyên tắc cân đối, nghiêm cẩn, thể hiện sự uy quyền. Trong khi đó, các con dấu thời kỳ cách mạng lại cho thấy sự chuyển đổi sang chữ Quốc ngữ với thiết kế đơn giản, thực dụng nhưng tràn đầy tinh thần thời đại. Việc nghiên cứu chất liệu và cách thức chế tác còn giúp hiểu rõ hơn về trình độ thủ công mỹ nghệ và điều kiện kinh tế của địa phương trong từng thời kỳ. Việc nghiên cứu mặt dấu cho thấy trình độ điêu khắc điêu luyện của người nghệ nhân xưa. Chữ Triện trên dấu đồng thường có nét thanh, nét đậm dứt khoát, bố cục chữ được sắp xếp cân đối trong một không gian hẹp. Kỹ thuật đúc đồng đạt độ tinh xảo cao, đảm bảo mặt dấu phẳng tuyệt đối để khi đóng dấu, mực thấm đều và rõ nét. Đối với các con dấu gỗ, kỹ thuật khắc ngược (khắc âm bản) đòi hỏi sự tỉ mỉ để các nét chữ không bị vỡ, gãy.
Trong xã hội cũ, "nhìn dấu như thấy vua", "nhìn dấu như thấy chính quyền". Con dấu là vật bảo chứng cho tính thực thi của các sắc lệnh, tờ trình, văn khế. Nghiên cứu sưu tập cho thấy sự phân cấp quyền hạn rõ rệt: con dấu của quan lại đầu tỉnh có kích thước lớn và trang trí phức tạp hơn dấu của cấp xã, thôn. Điều này phản ánh tư duy quản lý tập quyền nghiêm mật của các thể chế đương thời.
Sưu tập con dấu tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh không chỉ là những cổ vật im lặng, mà là những "pho sử liệu" sinh động. Chúng kết nối quá khứ với hiện tại, khẳng định tính liên tục của bộ máy hành chính và sự ổn định của cộng đồng cư dân trên mảnh đất Nghệ An. Nó không chỉ là nhân chứng cho những biến động chính trị, sự thay đổi của địa danh lịch sử mà còn là minh chứng cho trí tuệ và đôi bàn tay khéo léo của các thế hệ cha ông. Việc tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu, số hóa và tổ chức trưng bày chuyên đề về ấn chương sẽ mở ra những góc nhìn mới mẻ, giúp công chúng hiểu sâu sắc hơn về sự hình thành và phát triển bền vững của bộ máy quản lý nhà nước cũng như bản sắc văn hóa độc đáo của vùng đất Nghệ An trong dòng chảy lịch sử Việt Nam.
Mỗi con dấu là một "lời kể" về lịch sử quản lý vùng đất, về sự hình thành và phát triển của các cộng đồng dân cư, là khối di sản vô giá, là nhân chứng sống động cho sự hình thành và phát triển của bộ máy hành chính địa phương. Mỗi con dấu là một lát cắt lịch sử, giúp thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về tính pháp chế và sự nghiêm cẩn của cha ông trong quản lý quốc gia. Việc nghiên cứu và bảo tồn phát huy giá trị sưu tập này góp phần gìn giữ những giá trị pháp chế "linh hồn" của lịch sử vùng đất Nghệ An văn hiến trong dòng chảy chung của văn hóa dân tộc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Bùi Dương Lịch (Nguyễn Thạch Giang dịch & chú giải) (1993), Nghệ An ký, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Cục Lưu trữ Nhà nước (2000), Ấn chương triều Nguyễn (1802 - 1945), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
- Đào Duy Anh (2016), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Hồng Đức, Hà Nội.
- Hồ sơ hiện vật con dấu ( Lưu trữ tại kho cơ sở số 7-10), Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh.
- Nguyễn Công Việt (2005), Ấn chương Việt Nam từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XIX, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Đan Tâm (2010), Sự chuyển biến của bộ máy chính quyền cấp xã ở Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
- Ninh Viết Giao (Chủ biên) (2009), Địa chí văn hóa xứ Nghệ, NXB Nghệ An.
- Quốc sử quá triềuNguyễn (2003), Đồng Khánh địa dư chí, NXB Thế giới, Hà Nội.