377
241
2098
98232
67172
7547936
Nghệ Tĩnh từ lâu được biết đến là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, có vị trí đặc biệt trong tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nơi đây đã sản sinh nhiều anh hùng dân tộc, chí sĩ yêu nước và nhà hoạt động cách mạng kiệt xuất. Từ các cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ phương Bắc, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX đến những cao trào cách mạng đầu thế kỷ XX, Nghệ Tĩnh luôn là một trong những địa bàn có phong trào yêu nước và cách mạng sôi nổi, bền bỉ nhất cả nước. Chính truyền thống đó đã góp phần hình thành bản lĩnh, tinh thần dân tộc và lý tưởng cách mạng của nhiều thế hệ thanh niên ưu tú, trong đó có đồng chí Hồ Tùng Mậu.
Đồng chí Hồ Tùng Mậu là một trong những chiến sĩ cộng sản tiền bối xuất sắc của cách mạng Việt Nam, người đồng chí thân thiết và cộng sự tin cậy của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuộc đời hoạt động của ông gắn liền với những bước chuyển quan trọng của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX, từ ảnh hưởng của các khuynh hướng yêu nước đầu thế kỷ đến sự lựa chọn con đường cách mạng vô sản. Sự hình thành ý chí yêu nước và bản lĩnh chính trị kiên cường của Hồ Tùng Mậu không chỉ bắt nguồn từ phẩm chất cá nhân mà còn được nuôi dưỡng sâu sắc bởi truyền thống quê hương và bầu không khí đấu tranh sục sôi của Nghệ Tĩnh trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Chân dung đồng chí Hồ Tùng Mậu (1896-1951)
Việc nghiên cứu phong trào cách mạng Nghệ Tĩnh và tác động của nó đối với sự hình thành ý chí yêu nước của đồng chí Hồ Tùng Mậu không chỉ giúp làm sáng tỏ mối quan hệ giữa môi trường lịch sử – xã hội với quá trình hình thành nhân cách của một nhà cách mạng lớn, mà còn góp phần khẳng định giá trị của truyền thống yêu nước trong công tác giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ hiện nay.
Nghệ Tĩnh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX – cái nôi của tinh thần yêu nước và cách mạng
Trong lịch sử dân tộc, Nghệ Tĩnh luôn nổi bật với bản sắc văn hóa và phẩm chất con người giàu nghị lực. Cùng với những đặc điểm chung của dân tộc Việt Nam, cư dân xứ Nghệ được tôi luyện trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và một môi trường lịch sử nhiều biến động. Thiên tai thường xuyên, đất đai cằn cỗi và những cuộc chiến tranh kéo dài đã rèn đúc nên những phẩm chất tiêu biểu như cần cù, tiết kiệm, cương trực, kiên cường, giàu ý chí, hiếu học và sẵn sàng hy sinh vì nghĩa lớn. Đây chính là nền tảng tinh thần quan trọng tạo nên truyền thống yêu nước và ý thức trách nhiệm sâu sắc đối với vận mệnh đất nước.
Phát huy truyền thống yêu nước của ông cha, khi thực dân Pháp từng bước áp đặt ách thống trị lên Việt Nam, Nghệ Tĩnh nhanh chóng trở thành một trong những trung tâm kháng chiến tiêu biểu. Sau khi chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi ban ra lần thứ hai với lời hiệu triệu: “Kẻ trí hiến mưu kế, người dũng hiến sức lực, kẻ giàu bỏ của ra giúp đồng bào, đồng trạch, chẳng từ gian hiểm…” cả dãy Hồng Lam đã bừng bừng khí thế "Bình Tây, phục Quốc" dưới sự lãnh đạo của văn thân, sĩ phu yêu nước. Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn và Đặng Như Mai với ngọn cờ “Bình tây sát tả” ở Thanh Chương năm 1874. Ở Yên Thành có khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã; Nghi Lộc có khởi nghĩa của Đinh Văn Chất; Nam Đàn có khởi nghĩa của Vương Thúc Mậu; Đức Thọ có khởi nghĩa của Lê Ninh. Trong số đó, khởi nghĩa Hương Khê dưới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng được đánh giá là đỉnh cao của phong trào Cần Vương với quy mô rộng lớn, tổ chức chặt chẽ và thời gian tồn tại hơn mười năm (1885–1896). Địa bàn hoạt động chủ yếu của nghĩa quân trải rộng trên vùng núi Nghệ An, Hà Tĩnh và các tỉnh lân cận. Nghĩa quân của cụ Phan Đình Phùng với nhiều vũ khí thô sơ tự tạo như: chông 3 mũi, súng trường, nỏ, tên… cùng lối đánh du kích linh hoạt, dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở để tấn công giặc đã đánh thắng nhiều trận lớn ở Phủ Quỳ, Cầu Giát (tháng 10/1890), đồn Quy Hợp - Hương Khê (tháng 3/1891), thị xã Hà Tĩnh (tháng 8/1890)… gây cho quân địch nhiều tổn thất. Tinh thần chiến đấu bất khuất của nghĩa quân đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống tinh thần của nhân dân Nghệ Tĩnh, góp phần nuôi dưỡng ý chí chống ngoại xâm và khát vọng độc lập dân tộc cho nhiều thế hệ.
Bước sang đầu thế kỷ XX, trước sự thất bại của các cuộc khởi nghĩa theo khuynh hướng phong kiến, phong trào yêu nước Việt Nam bắt đầu chuyển hướng tìm kiếm những phương thức đấu tranh mới. Trong bối cảnh đó, Nghệ Tĩnh tiếp tục giữ vai trò là một trong những địa bàn năng động nhất trong việc tiếp nhận và lan tỏa các tư tưởng canh tân, dân chủ và giải phóng dân tộc.
Năm 1905, phong trào mang khuynh hướng “Dân chủ tư sản” nổ ra do cụ Phan Bội Châu lãnh đạo đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của mọi tầng lớp nhân dân. Phan Bội Châu, người con tiêu biểu của Nghệ An, cùng các đồng chí như Đặng Thái Thân và Tiểu La Nguyễn Thành đã thành lập Hội Duy Tân, khởi xướng phong trào Đông Du. Chủ trương đưa thanh niên sang Nhật Bản học tập để chuẩn bị lực lượng cho công cuộc cứu nước đã tạo tiếng vang lớn, thu hút nhiều thanh niên Nghệ Tĩnh tham gia. Phong trào này đã góp phần khơi dậy khát vọng học hỏi, tiếp thu tri thức tiến bộ nhằm phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. Những vần thơ thắm đượm tinh thần yêu nước, thương dân của cụ Phan Bội Châu như: “Việt Nam vong quốc sử”, “Hải ngoại huyết thư”… cũng đã góp phần làm thức tỉnh ý thức dân tộc, lòng căm thù giặc trong nhân dân. Đi theo tiếng gọi yêu nước của Phan Bội Châu, tầng lớp trí thức đã xuất dương ra nước ngoài hoạt động cách mạng.

Tác phẩm của Phan Bội Châu và những tư liệu về phong trào Đông Du
Song song với Đông Du, phong trào Duy Tân và các hoạt động cải cách xã hội cũng phát triển mạnh. Những quan niệm mới về dân quyền, dân chủ, phát triển kinh tế và chấn hưng văn hóa được phổ biến rộng rãi thông qua sách báo và hoạt động tuyên truyền của các sĩ phu yêu nước. Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức chính trị của tầng lớp trí thức và thanh niên lúc bấy giờ.
Mặt khác, chính sách khai thác thuộc địa và bóc lột của thực dân Pháp cùng sự cấu kết của bộ máy phong kiến tay sai đã đẩy đời sống nhân dân vào cảnh cùng cực. Sưu thuế nặng nề, cưỡng đoạt ruộng đất và áp bức bóc lột đến tận xương tủy khiến mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, làm bùng lên nhiều cuộc đấu tranh trong quần chúng.
Tiêu biểu là phong trào chống thuế năm 1908 ở Trung Kỳ lan rộng từ Quảng Nam ra Hà Tĩnh, tác động mạnh đến Nghệ An. Ở các vùng nông thôn, cuộc đấu tranh giữa “phe hộ”, chống “phe hào” càng thêm kịch liệt. Nhân khí thế ấy, các sĩ phu ở Nghệ An đứng đầu là Chu Trạc lại có chủ trương bạo động nhưng sớm bị thực dân Pháp dập tắt. Phong trào chống thuế Trung Kỳ tuy thất bại nhưng đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh chống thực dân, phong kiến trong toàn quốc. Riêng ở Nghệ Tĩnh, việc thực dân Pháp tiến hành đàn áp quyết liệt, bắt giam hàng trăm người, đa số là các sĩ phu yêu nước, đặc biệt là vụ xử chém Nguyễn Hàng Chi và Trịnh Khắc Lập đã gây nên làn sóng phẫn nộ sâu sắc trong các tầng lớp nhân dân, tạo đà cho phong trào yêu nước tiếp nối sau đó…
Sau khi phong trào Đông Du gặp trở ngại, nhiều thanh niên yêu nước tiếp tục tìm đường sang Xiêm và Trung Quốc để hoạt động. Trong giai đoạn 1909–1920, làn sóng xuất dương diễn ra mạnh mẽ ở Nghệ Tĩnh, thể hiện quyết tâm không ngừng tìm kiếm con đường cứu nước thích hợp cho dân tộc.
Những chuyển biến sâu sắc của phong trào yêu nước trong giai đoạn này đã tạo nên môi trường chính trị – xã hội đặc biệt, góp phần định hướng tư tưởng và thôi thúc lớp thanh niên Nghệ Tĩnh dấn thân vì độc lập dân tộc trong đó có đồng chí Hồ Tùng Mậu.
Có thể thấy rằng, giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Nghệ Tĩnh là một trong những trung tâm sôi động nhất của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam. Từ các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, các hoạt động chống sưu cao thuế nặng đến những phong trào Đông Du, Duy Tân và xuất dương tìm đường cứu nước, mảnh đất này đã tạo nên một môi trường lịch sử – xã hội đặc biệt, nơi tinh thần dân tộc, ý chí đấu tranh và khát vọng độc lập được nuôi dưỡng mạnh mẽ trong đời sống nhân dân.
Sinh ra tại làng Quỳnh Đôi (nay là xã Quỳnh Anh), huyện Quỳnh Lưu, trong một vùng quê nổi tiếng về truyền thống hiếu học, khoa bảng và yêu nước, Hồ Tùng Mậu sớm được sống trong bầu không khí giàu tinh thần dân tộc. Những câu chuyện về các anh hùng chống ngoại xâm, về các sĩ phu yêu nước và về những người con Nghệ Tĩnh sẵn sàng hy sinh vì đất nước đã tác động sâu sắc đến nhận thức và tình cảm của ông ngay từ thuở thiếu thời. Đồng thời, thực tế nhân dân lao động phải chịu cảnh áp bức, bóc lột dưới ách thống trị của thực dân Pháp và phong kiến tay sai đã khơi dậy trong ông lòng căm thù giặc và ý thức trách nhiệm đối với vận mệnh dân tộc.
Trong số những nhân vật có ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Hồ Tùng Mậu, Phan Bội Châu giữ vị trí đặc biệt. Là người con tiêu biểu của Nghệ An, Phan Bội Châu trở thành biểu tượng của chí khí cứu nước và tinh thần dấn thân vì độc lập dân tộc. Tư tưởng canh tân đất nước, chủ trương xuất dương cầu học và những hoạt động vận động cách mạng của Phan Bội Châu đã có sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với lớp thanh niên yêu nước đương thời, trong đó có Hồ Tùng Mậu. Từ sự ngưỡng mộ và tiếp nhận những tư tưởng tiến bộ đó, ông từng bước xác định con đường dấn thân vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Bên cạnh ảnh hưởng của các sĩ phu yêu nước, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Nghệ Tĩnh cũng góp phần quan trọng vào sự trưởng thành về nhận thức của Hồ Tùng Mậu. Những cuộc đấu tranh chống áp bức, bất công đã giúp ông nhận thấy sức mạnh to lớn của nhân dân lao động và hiểu rằng quần chúng chính là lực lượng quyết định trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Nhận thức này trở thành cơ sở quan trọng để ông tiếp thu tư tưởng cách mạng vô sản sau này.
Dưới tác động trực tiếp của phong trào yêu nước Nghệ Tĩnh, Hồ Tùng Mậu sớm tham gia các hoạt động cứu nước. Quá trình xuất dương, hoạt động cách mạng ở nước ngoài, đặc biệt là quá trình gắn bó với Nguyễn Ái Quốc và tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, đã giúp ông chuyển biến từ một người yêu nước nồng nàn thành một chiến sĩ cộng sản kiên trung. Ông trở thành một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những cán bộ lãnh đạo tiền bối có nhiều đóng góp quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Có thể khẳng định rằng phong trào yêu nước và cách mạng ở Nghệ Tĩnh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hình thành ý chí cứu nước của Hồ Tùng Mậu. Chính môi trường lịch sử giàu truyền thống đấu tranh, kết hợp với truyền thống quê hương Quỳnh Lưu – Quỳnh Đôi và sự giáo dục của gia đình, đã nuôi dưỡng lòng yêu nước, hun đúc bản lĩnh và định hướng con đường hoạt động cách mạng của ông. Từ nền tảng đó, Hồ Tùng Mậu đã trưởng thành thành một nhà cách mạng tiêu biểu, suốt đời trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Từ người con ưu tú làng Quỳnh đến người chiến sỹ cộng sản kiên trung mẫu mực của cách mạng Việt Nam
Được hun đúc bởi truyền thống quê hương, dòng họ, gia đình và tác động mạnh mẽ của phong trào yêu nước Nghệ Tĩnh, người thanh niên ưu tú của quê hương làng Quỳnh - Hồ Tùng Mậu đã sớm xác định trách nhiệm của mình đối với đất nước. Khi còn trẻ, ông tích cực tham gia vào các hoạt động yêu nước và có quan hệ với những người cùng chí hướng.
Giống như nhiều thanh niên tiến bộ đầu thế kỷ XX, Hồ Tùng Mậu chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phan Bội Châu và phong trào Đông Du. Tấm gương của các bậc tiền bối, cùng truyền thống dòng họ, gia đình đã giúp ông nhận thức rằng cứu nước là con đường sống duy nhất của một người thanh niên có lòng tự trọng dân tộc.
Quá trình tham gia phong trào yêu nước giúp Hồ Tùng Mậu từng bước trưởng thành về nhận thức chính trị. Từ lòng căm thù chế độ thực dân và tình yêu quê hương đất nước, ông đi đến quyết tâm dấn thân lâu dài vào sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Được bà Trần Thị Trâm giới thiệu, năm 1920, Hồ Tùng Mậu cùng hàng chục thanh niên Nghệ An bí mật xuất dương sang Xiêm (Thái Lan), sau đó hoạt động tại Trung Quốc. Việc rời quê hương để tìm đường cứu nước thể hiện rõ ý chí, quyết tâm và khát vọng giải phóng dân tộc đã được hình thành từ những năm tháng sống trong môi trường cách mạng của Nghệ Tĩnh.

Vali da của đồng chí Hồ Tùng Mậu sử dụng trong thời gian hoạt động tại Xiêm năm 1920
Trong quá trình hoạt động ở nước ngoài, Hồ Tùng Mậu có điều kiện tiếp xúc với các xu hướng cách mạng mới và trực tiếp tham gia các tổ chức yêu nước của người Việt Nam. Đặc biệt, năm 1924 ông tham gia lớp huấn luyện chính trị do Nguyễn Ái Quốc tổ chức tại Quảng Châu, Trung Quốc và được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và Cộng sản Đoàn.
Dưới sự giáo dục và dìu dắt của Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin và nhận thức rõ rằng chỉ có con đường cách mạng vô sản mới có thể giải phóng dân tộc một cách triệt để. Đây là bước phát triển tất yếu từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống đến lập trường cách mạng khoa học.
Sau khi tiếp thu lý luận cách mạng vô sản, Hồ Tùng Mậu trở thành một trong những cán bộ nòng cốt của phong trào cách mạng Việt Nam. Ông tích cực tham gia tuyên truyền, tổ chức và đào tạo cán bộ, góp phần quan trọng vào quá trình chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Tùng Mậu nhiều lần bị địch bắt giam và chịu đựng những năm tháng lao tù khắc nghiệt. Tuy nhiên, mọi thử thách không làm suy giảm ý chí chiến đấu của ông. Trái lại, lòng yêu nước được hun đúc từ quê hương Nghệ Tĩnh đã trở thành nguồn sức mạnh tinh thần to lớn, giúp ông luôn giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng.
Tháng 4/1927, Hồ Tùng Mậu và một số cán bộ cách mạng Việt Nam đang hoạt động tại Trung Quốc bị bắt. Sau 5 tháng bị giam giữ, Tưởng Giới Thạch buộc phải thả những người Việt Nam yêu nước bị bắt trước áp lực đấu tranh của Nhân dân ta và Nhân dân Trung Quốc.
Vừa ra khỏi nhà tù, Hồ Tùng Mậu đi ngay Quảng Tây để đón đoàn cán bộ từ trong nước sang. Đến Nam Kinh, ông lại bị bắt, vì không có chứng cứ buộc tội nên được thả ngay. Trở về Quảng Châu, đồng chí tiếp tục mở các lớp huấn luyện chính trị theo chương trình của Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Ngày 12/12/1927, Quảng Châu Công xã bùng nổ. Trụ sở của Tổng bộ bị đập phá, bọn phản động trong Việt Nam Quốc dân Đảng lợi dụng cơ hội công kích những người cộng sản. Không thực hiện được việc lôi kéo và hăm dọa cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chúng đã báo với chính phủ Tưởng Giới Thạch bắt giam Hồ Tùng Mậu và những người trong cơ quan Tổng bộ.
Tháng 8/1928, Hồ Tùng Mậu lại bị bắt, đến tháng 11/1929 mới được thả tự do. Ông về hoạt động ở Hồng Kông và cùng với các đồng chí Lê Duy Điếm, Lê Hồng Sơn chủ trương liên hệ tập hợp các phần tử cộng sản trong Tổng bộ và số mới ở tù về thành lập chi bộ An Nam Cộng sản Đảng, đồng thời viết thư liên hệ với Đông Dương Cộng sản Đảng ở Bắc Kỳ để thống nhất hành động. Lúc này ở trong nước, Tòa án Nghệ An đã xử văng mặt Hồ Tùng Mậu, kết án tử hình “về tội vận động lập Đảng Cộng sản, xúi giục đưa người ra nước ngoài, mưu đồ phiến loạn”.
Trong thời gian diễn ra Hội nghị thành lập Đảng, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn tham gia hỗ trợ Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị các điều kiện tổ chức hội nghị, liên lạc với các đại biểu, bảo đảm an toàn và phục vụ công tác hậu cần. Mặc dù không phải là đại biểu chính thức đại diện cho các tổ chức cộng sản trong nước, ông đóng vai trò trợ thủ đắc lực của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình thống nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất.
Bên cạnh đó, với kinh nghiệm hoạt động phong phú và sự hiểu biết sâu sắc về phong trào cách mạng, Hồ Tùng Mậu đã góp phần quan trọng vào việc trao đổi, thống nhất nhận thức giữa các lực lượng cách mạng, tạo điều kiện để Hội nghị thông qua các văn kiện nền tảng như Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và Điều lệ tóm tắt của Đảng.
Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, Hồ Tùng Mậu tiếp tục là cán bộ lãnh đạo quan trọng của Đảng, trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng trong và ngoài nước, góp phần củng cố tổ chức Đảng và thúc đẩy sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Có thể khẳng định rằng, trong Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Tùng Mậu không chỉ là người cộng sự thân cận, trợ giúp tích cực cho Nguyễn Ái Quốc mà còn là một trong những nhân vật có đóng góp thiết thực vào thành công của sự kiện lịch sử trọng đại này. Vai trò của ông thể hiện rõ phẩm chất của một chiến sĩ cách mạng tiền bối trung kiên, tận tụy và giàu năng lực tổ chức.
Ngày 26/6/1931, đồng chí tiếp tục bị bắt, giải về nước để xét xử. Chính quyền thực dân, phong kiến đòi thi hành bản án tử hình mà chúng đã xử cuối năm 1929. Ngày 6/12/1931, Tòa án Nghệ An xử lại, kết án Hồ Tùng Mậu tù khổ sai chung thân. Đồng chí đã làm đơn chống án và khẳng định: “Tôi lìa nhà lập chí không phải để hại nước. Tôi tự hỏi lương tâm không có tội gì và việc làm của bản thân vẫn sáng như ban ngày.”
Từ năm 1931 đến năm 1945, suốt 14 năm đồng chí liên tục bị giam trong các nhà lao Hỏa Lò, Nhà lao Vinh, Lao Bảo, Kon Tum, Buôn Ma Thuột, Trà Khê. Nhưng trong bất cứ địa ngục trần gian nào, đồng chí vẫn vững chí khí của người cộng sản, bất khuất, kiên trung chống lại mọi âm mưu thủ đoạn của kẻ thù. Tại Nhà lao Vinh, đồng chí đã lập ra “tờ báo miệng” để tuyên truyền, động viên anh em tù giữ vững bản lĩnh, ý chí chiến đấu, đồng thời cho ra đời vở kịch “Giọt máu hồng” để cao lòng thủy chung với Đảng của các chiến sĩ cách mạng lúc sa vào tay giặc. Tác phẩm này được chuyển thể thành kịch diễn thành công và có tác dụng lan tỏa tinh thần yêu nước trong lao tù đế quốc. Đồng chí Hồ Tùng Mậu đóng vai chính trong vở kịch này.

Ngục Kon Tum nơi đồng chí Hồ Tùng Mậu giam cầm từ năm 1932-1934
Tại Nhà lao Kon Tum, Hồ Tùng Mậu lại cùng anh em lập Hội Tao đàn, dùng hình thức bình thơ để tuyên truyền, giáo dục lý tưởng cách mạng. Đến Nhà lao Buôn Ma Thuột, trước thủ đoạn hòng chia rẽ anh em tù chính trị, đồng chí tiếp tục đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu thâm độc của chúng.
Tháng 3/1945, Hồ Tùng Mậu vượt ngục về hoạt động ở Trung Bộ, hoà cùng dân tộc chuẩn bị tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Năm 1946, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến - Hành chính Liên khu Bốn.
Năm 1948, Đảng và Chính phủ củng cố ngành thanh tra của Nhà nước, Hồ Tùng Mậu được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ tín nhiệm cử làm Tổng Thanh tra của Chính phủ. Tháng 02/1951, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, Hồ Tùng Mậu được bầu là Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, làm Trưởng ban Kiểm tra Trung ương và Hội trưởng đầu tiên Hội Việt – Hoa hữu nghị. Ngày 21/7/1951, trên đường vào Liên khu IV công tác, đồng chí đã anh dũng hy sinh.
Sự hy sinh của đồng chí Hồ Tùng Mậu là một tổn thất lớn của Đảng và cách mạng Việt Nam. Được tin đồng chí Hồ Tùng Mậu hy sinh, ngày 01/8/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài điếu, vô cùng đau xót trước cái chết của một người cách mạng mẫu mực. Người viết: “…mất chú, đồng bào mất một người lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một người cán bộ lão luyện, Đoàn thể mất một người đồng chí trung thành, và tôi mất một người anh em chí thiết. Mấy nguồn thương tiếc, cộng vào trong một lòng tôi…
Tôi gạt nước mắt, thay mặt Chính phủ, nghiêng mình trước linh hồn chú và truy tặng chú Huân chương Hồ Chí Minh để nêu công lao chú đối với đồng bào, đối với Tổ quốc”.

Thư chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điếu cụ Hồ Tùng Mậu
Từ một thanh niên yêu nước trưởng thành trong phong trào cách mạng Nghệ Tĩnh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, Hồ Tùng Mậu đã trở thành người chiến sĩ cộng sản kiên trung, mẫu mực, một cán bộ lão luyện trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá “tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Cuộc đời của ông là minh chứng sinh động cho tác động sâu sắc của truyền thống quê hương đối với sự hình thành và phát triển của ý chí cách mạng.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Hà Tĩnh (1993), Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh, tập 1, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
2. Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Tỉnh ủy Nghệ An (2018), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1930–1954), tập 1, Nxb Nghệ An, Nghệ An.
3. Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2011), Hồ Tùng Mậu – Người cộng sản kiên trung, mẫu mực, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Hoàng Thanh Đạm, Phan Hữu Thịnh (1996), Đời nối đời vì nước, Nxb Nghệ An, Nghệ An.
5. Tỉnh ủy Nghệ An (2000), Xô viết Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, Nghệ An.