Những kỷ vật của bà Đặng Quỳnh Anh- người ươm mầm “ hạt giống đỏ” tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh

Tác giả: Đinh Thị Ánh Tuyết
Ngày 2026-08-28 16:21:20

          Lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX ghi dấu ấn của biết bao anh hùng, chiến sĩ thầm lặng. Trong số đó, cụ bà Đặng Quỳnh Anh là một biểu tượng cao đẹp cho người phụ nữ Việt Nam kiên cường, bất khuất ở tiền tuyến nhưng lại bao dung, tần tảo ở hậu phương. Cuộc đời bà là một dấu nối lịch sử đặc biệt, đi từ phong trào Cần Vương, Đông Du, Việt Nam Quang phục Hội cho đến phong trào Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Với hơn 40 năm hoạt động cách mạng bí mật tại Thái Lan, bà đã cống hiến trọn vẹn tuổi thanh xuân để nuôi dưỡng những "hạt giống đỏ" đầu tiên cho nền độc lập nước nhà.

Bà Đặng Quỳnh Anh (1885 - 1973) sinh ra tại làng Lương Điền, tổng Bích Triều, thuộc xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An). Đây là vùng đất địa linh nhân kiệt, cái nôi của nhiều sĩ phu yêu nước xứ Nghệ. Lớn lên trong một gia đình học thức và khoa bảng, cha của bà là cụ Đặng Thái Văn - một biểu tượng của tinh thần nghĩa khí từng dốc lòng phò tá Đề Định hưởng ứng Chiếu Cần Vương. Sống dưới sự giáo dục nghiêm cẩn và ảnh hưởng mạnh mẽ từ các thế hệ đi trước, đặc biệt là người anh họ Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn và người anh ruột Đặng Thúc Hứa, tư tưởng giải phóng quê hương đã sớm bén rễ trong tâm thức của bà từ thuở thiếu thời.

 

Bà Đặng Quỳnh Anh (1885-1973).

Thời kỳ đầu, bà Đặng Quỳnh Anh tham gia làm giao thông liên lạc cho tổ chức Việt Nam Quang phục Hội tại địa bàn Nghệ An. Trong những chuyến đi đầy nguy hiểm này, bà đã kết thân với bà Nguyễn Thị Thanh (chị gái của Chủ tịch Hồ Chí Minh) - một người tinh thông chữ Hán và tháo vát trong việc giúp đỡ các sĩ phu yêu nước. Bước ngoặt lớn lao đến khi bà nhận được mật thư từ người anh ruột Đặng Thúc Hứa (bí danh Tú Đi) gửi về từ Xiêm (Thái Lan) vào năm 1910 với nội dung: Yêu cầu bà bí mật xuất dương sang Xiêm gấp, mang theo quỹ Hội (khoảng 200 đồng Đông Dương) để mua súng đạn. Không một chút đắn đo, người con gái trẻ tuổi Đặng Quỳnh Anh đã dũng cảm vượt qua hệ thống đồn bốt bủa vây của thực dân Pháp, băng qua các cánh rừng rậm bên Lào để sang Thái Lan, mang theo nguồn tài chính quan trọng của tổ chức.

Khi sang đến vùng Pạc Nậm Phô (Thái Lan), bà được giao hai nhiệm vụ chiến lược: Làm ruộng để tự túc lương thực tích lũy mua vũ khí và nuôi dạy các thiếu niên được tuyển chọn từ trong nước sang. Dưới sự định hướng của cụ Đặng Thúc Hứa, bà đã dấn thân vào vùng đất Đông Bắc Thái Lan. Tại các địa bàn Pạc Nậm Phô, Phì Chịt và sau này là bản Đông thuộc tỉnh U-đon, bà nhận thức sâu sắc lời căn dặn: "Công việc sản xuất này o đừng tưởng là nhỏ mọn. Một con dế có thể đào lở thành trì". Bà Đặng Quỳnh Anh đã tiên phong khai hoang, lập nên các "Trại cày" bán hợp pháp cùng các đồng chí Đặng Tử Kính, Hồng Chung. Đây là mô hình sản xuất nông nghiệp vừa tạo nguồn lương thực tích trữ, kinh phí mua sắm vũ khí gửi về nước, vừa là vỏ bọc hợp pháp che giấu cán bộ từ trong nước sang hoạt động bí mật.

Song song với mặt trận kinh tế, đóng góp vĩ đại nhất của bà tại hải ngoại là công tác ươm mầm các "hạt giống đỏ". Bà được tổ chức tin tưởng giao phó quản lý "Trại các em" - trung tâm nuôi dưỡng và giáo dục thế hệ thiếu niên yêu nước. Căn nhà sàn của bà và chồng là nhà cách mạng Võ Tùng (đồng chí thân thiết của Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong) trở thành mái ấm an toàn và là trạm giao liên bí mật. Tại đây, bà đã bảo bọc, chăm sóc như một người mẹ hiền cho nhiều nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc như Lê Hồng Phong, Lê Thiết Hùng, Phạm Hồng Thái, Hoàng Văn Thụ...

Đặc biệt, trong giai đoạn từ năm 1928 đến 1929, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (bí danh Thầu Chín) sang Thái Lan hoạt động, gia đình bà Đặng Quỳnh Anh chính là nơi đưa đón và chăm sóc Người. Bà con Việt kiều, Hoa kiều và người dân sở tại đã trìu mến gọi bà bằng cái tên đầy kính trọng: Mè Nho (Mẹ Nho). Trong hồi ký của mình, bà viết: "...Tôi khép nép nhìn ông khách, chỉ mỉm cười mà không nói lên một điều gì, bởi vì ngay từ giây phút đầu tiên gặp ông, tôi đã cảm thấy có điều gì đó rất khác thường, không thể giải thích. Hai con mắt sáng một cách lạ lùng, nhưng rất ấm, rất trìu mến. Tôi cảm tưởng như đã gặp một lần nào rồi, cho nên tôi thấy ông vừa lạ mà vừa quen…”(1)

Tháng 4/1934, bà được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khỏi Kèn. Đầu năm 1934, chính quyền Thái Lan tăng cường khủng bố, bà bị bắt khi vừa sinh con trai thứ ba được mấy tháng và chịu cảnh tù đày suốt 10 năm liền, đến cuối năm 1944 mới được thả. Tháng 3/1946, "Tổng hội Việt kiều" được thành lập, đồng chí Đặng Quỳnh Anh được bầu vào Ban Chấp hành. Năm 1953, nhận lời mời từ Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, bất chấp tuổi cao sức yếu, bà đã đeo ba lô vượt dãy Trường Sơn ra chiến khu Việt Bắc. Trở về đất mẹ, bà tiếp tục cống hiến kinh nghiệm cho phong trào phụ nữ đến khi trút hơi thở cuối cùng vào năm 1973, thọ 88 tuổi.

Cuộc đời thầm lặng nhưng vĩ đại của bà Đặng Quỳnh Anh đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho văn học cách mạng. Chân dung của bà từng được nhà văn Sơn Tùng khắc họa trọn vẹn qua cuốn truyện ký "Con đường và con người". Dưới góc nhìn sử học hiện đại, bà chính là hiện thân sinh động cho phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt Nam, một nhân chứng lịch sử kiệt xuất đã hiến dâng trọn vẹn cuộc đời cho nền độc lập, tự do của dân tộc.

Thời gian có thể làm mờ đi những dấu vết của quá khứ, nhưng những hiện vật còn lại chính là những "nhân chứng trung thành" nhất kể lại câu chuyện về một thời khắc nghiệt mà oanh liệt. Trong kho tàng di sản hiện vật đang được trân trọng lưu giữ và bảo quản tại Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh, chiếc áo cánh nữ và chiếc túi thổ cẩm cá nhân của bà Đặng Quỳnh Anh không đơn thuần là những vật dụng sinh hoạt thường ngày. Đó là những di vật lịch sử vô giá, chứa đựng những ký ức sống động về chặng đường hơn 40 năm bôn ba nơi xứ người, phản ánh sự mưu trí, kiên trung và những đóng góp thầm lặng nhưng đặc biệt quan trọng của người phụ nữ xứ Nghệ trong công tác đảm bảo nguồn lực tài chính, gây quỹ cách mạng và bảo vệ cán bộ cách mạng tại hải ngoại.

Áo cánh nữ (Ký hiệu: BTNA 3108/V. 285)

Hiện vật là chiếc áo cánh nữ dáng ngắn, may theo kết cấu ba thân gồm hai vạt rời phía trước và một thân nguyên phía sau. Cổ áo được cắt tròn, hai bên hông xẻ kích giúp người mặc thuận tiện trong sinh hoạt và vận động. Áo mở ngực ở chính giữa, cố định bằng hệ thống năm cúc bấm bố trí dọc theo nẹp vạt. Mặt trước áo may nổi hai túi hình chữ nhật đối xứng ở vạt dưới, phần nẹp cổ bên trong được đệm một lớp vải hoa văn màu đỏ điểm chấm hoa trắng.

Toàn bộ áo mang sắc màu tím hoa sim đặc trưng của trang phục nữ giới đầu thế kỷ XX, song qua thời gian dài sử dụng và bảo quản, hiện vật đã bị bạc màu rõ rệt, ngả sang tông tím nhạt pha hồng tro, trong đó hai ống tay áo bạc màu mạnh hơn phần thân. Do niên đại lịch sử và điều kiện hoạt động gian khổ, tình trạng hiện vật ghi nhận rách ở phần cổ và ống tay, bề mặt vải xuất hiện nhiều vết sần sờn cùng các nếp gấp thời gian.

Chiếc áo là trang phục thường nhật được bà Đặng Quỳnh Anh mặc trong suốt thời kỳ hoạt động cách mạng bí mật tại Xiêm (Thái Lan). Sau khi về nước, chiếc áo được bà cất giữ cẩn thận như một kỷ vật thiêng liêng.

Đi liền với chiếc áo cánh nữ là chiếc túi dệt thổ cẩm - di vật gắn liền trực tiếp với công tác gây quỹ và bảo vệ nguồn tài chính cách mạng của bà. Túi có dạng hình chữ nhật đứng với kích thước chiều dài 30cm và chiều rộng 72cm, đi kèm phần quai đeo liền hai bên hông được thắt nút phía trên. Bề mặt thân túi dệt các dải sọc ngang song song kết hợp hoa văn hình học đơn giản, điểm xuyết hai dải nẹp dọc bằng vải màu hồng đậm chạy song song viền thân túi và kéo dài thành quai đeo. Tại hai góc mép dưới của túi đính 4 nụ hoa vải màu hồng xòe tròn rủ xuống, tạo nét trang trí mỹ thuật dân gian tinh tế.

Túimàu sắc phong phú, trong đó gam màu hồng đậm cánh sen giữ vai trò chủ đạo ở phần quai và nẹp viền, còn phần thổ cẩm trung tâm dệt đa sắc phối hợp giữa các sợi chỉ xanh lơ, xanh đen, đỏ, vàng và đen. Hiện vật còn nguyên vẹn, chất lượng vải tốt, màu sắc và hoa văn dệt còn tương đối tươi sáng, rõ nét.

Chiếc túi thổ cẩm này từng được bà Đặng Quỳnh Anh thường xuyên sử dụng để cất giữ, vận chuyển vàng và bảo vệ nhiều tài liệu bí mật của Đảng - nguồn tài chính và thông tin cốt yếu trong thời kỳ hoạt động đầy nghiêm ngặt trên đất bạn Xiêm. Giữa hoàn cảnh bủa vây của kẻ thù, những đồng vàng được cất giấu cẩn mật trong lòng chiếc túi dệt đơn sơ này đã góp phần nuôi giấu cán bộ, duy trì hoạt động của tổ chức và xây dựng phong trào yêu nước của kiều bào. Chiếc túi vì thế đã trở thành một "kho báu cách mạng" di động, biểu tượng cho sự mưu trí, dũng cảm và lòng trung thành tuyệt đối của người chiến sĩ kiên trung.

Năm 1977, bà Đặng Quỳnh Anh đã trao lại chiếc áo và chiếc túi cho đồng chí Đậu Đình Đồng - phụ trách Nhà truyền thống xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An (nay là xã Bích Hào, tỉnh Nghệ An ) lưu giữ. Đến năm 1985, đồng chí Đậu Đình Đồng bàn giao lại cho đồng chí Trương Đắc Thành, cán bộ Bảo tàng Nghệ An (nay là Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh). 

Túi thổ cẩm (Ký hiệu: BTNA 3109/V. 286)

Vượt qua giới hạn của đồ dùng sinh hoạt cá nhân, bộ đôi kỷ vật ngày nay đã trở thành di sản tinh thần vô giá. Cuộc đời của bà Đặng Quỳnh Anh là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh và ý chí của người phụ nữ Việt Nam. Dù không trực tiếp cầm súng trên chiến trường hay đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt, những cống hiến thầm lặng của bà mang tầm vóc chiến lược đối với sự sinh tồn, phát triển của phong trào cách mạng hải ngoại và sự lớn mạnh của thế hệ "hạt giống đỏ" đầu tiên.

Việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị của hai kỷ vật tại Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh không chỉ dừng lại ở công tác kiểm kê di sản, mà còn mang ý nghĩa giáo dục truyền thống sâu sắc - làm cầu nối đưa thế hệ hôm nay trở về với giai đoạn lịch sử gian khổ mà oanh liệt của dân tộc.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An (2010), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1930 - 1954), Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Thanh Xuân (2015), Lịch sử Đảng bộ xã Thanh Xuân (1930 - 2015), Nxb Nghệ An, Vinh.

3. Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hồ sơ khoa học hiện vật: Áo cánh nữ (BTNA 3108/V. 285) và Túi thổ cẩm (BTNA 3109/V. 286), Tài liệu lưu trữ tại Phòng Sưu tầm Kiểm kê Bảo quản.

4. Nhiều tác giả (2012), Nghệ An - Những tấm gương Cộng sản, Tập 4, Nxb Nghệ An, Vinh.

5. Sơn Tùng (1984), Con đường và con người (Truyện ký về cụ Đặng Quỳnh Anh), Nxb Thanh niên, Hà Nội.

 

 

Video