329
276
605
39540
99872
7550766
Trong cuộc đối đầu phòng không ở miền Bắc thời kỳ chống Mỹ, Không quân Nhân dân Việt Nam dù mới thành lập nhưng đã khẳng định hiệu suất chiến đấu cao với nhiều chiến công hiệu quả. Một trong những gương mặt tiêu biểu cho lối đánh mưu trí và lòng quả cảm của lực lượng phi công tiêm kích là Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, liệt sĩ phi công Ngô Đức Mai. Dù thời gian phục vụ trong quân ngũ không dài, cuộc đời chiến đấu của ông đã để lại những kinh nghiệm thực tiễn quý báu về nghệ thuật sử dụng lực lượng nhỏ, trang bị thế hệ cũ để đương đầu và chiến thắng đối phương có ưu thế vượt trội về công nghệ.
Liệt sĩ Ngô Đức Mai sinh ngày 06 tháng 11 năm 1938 tại thôn Đông Mỹ, xã Hưng Tân, nay thuộc xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An. Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống hiếu học và tinh thần cách mạng, trong một gia đình giàu truyền thống tại Nghệ An, song thân là cụ Ngô Quang Thiêm và Hoàng Thị Dị là những người từng che giấu cán bộ cách mạng và cả bốn anh em đều lần lượt tham gia quân ngũ. Người thanh niên Ngô Đức Mai đã sớm được hun đúc tinh thần cách mạng, lòng yêu nước. Năm 1955, khi vừa tròn 17 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, ông lên đường nhập ngũ. Nhờ có sức khỏe dẻo dai của người con miền Trung cùng tư chất nhạy bén và kỷ luật thép, ông được chọn vào thế hệ học viên phi công quân sự đầu tiên chuẩn bị cho lực lượng không quân tiêm kích non trẻ. Ông được cử sang học tập tại Trường Không quân Trung Quốc thuộc đoàn học lái máy bay chiến đấu thứ hai của Việt Nam. Tại đây, ông phải trải qua những năm tháng học tập vô cùng khắc nghiệt, từ việc làm quen với lý thuyết khí động học, kỹ thuật hàng không phức tạp cho đến các bài tập ly tâm chịu áp lực lớn. Sau khi làm chủ hoàn toàn kỹ thuật điều khiển máy bay tiêm kích cận âm MiG-17, đầu năm 1966, ông tốt nghiệp về nước và được biên chế về Đại đội 2, Trung đoàn Không quân 923 (còn gọi là Đoàn Yên Thế). Tại đơn vị mới, ông giữ chức vụ Trung đội trưởng, có nhiệm vụ bảo vệ bầu trời, các huyết mạch giao thông và các mục tiêu kinh tế, quân sự của miền Bắc trước sự đánh phá điên cuồng của Không quân và Hải quân Mỹ, trực tiếp bước vào giai đoạn trực chiến đánh Mỹ khốc liệt nhất.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi về nước, ngày 04 tháng 3 năm 1966, biên đội của Trung đoàn 923 nhận lệnh xuất kích đánh chặn máy bay Mỹ đang đánh phá tuyến đường sắt Yên Bái - Phú Thọ. Đây là trận ra quân đầu tiên của toàn trung đoàn. Trong trận này, phi công Ngô Đức Mai bay ở vị trí số 2, làm nhiệm vụ bảo vệ và yểm hộ cho số 1. Khi phát hiện mục tiêu, dưới sự yểm trợ của đồng đội, ông đã bình tĩnh đưa chiếc F-4 hiện đại của Mỹ vào tầm ngắm và nổ súng bắn hạ mục tiêu. Chiến công mở màn này đã góp phần xây dựng nên truyền thống "Đã cất cánh là đánh thắng" của Đoàn Yên Thế. Nhờ thành tích xuất sắc đó, vào tháng 4 năm 1966, phi công Ngô Đức Mai cùng 5 đồng đội vinh dự được gặp mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Người trực tiếp trao tặng Huy hiệu Bác Hồ.

Anh hùng LLVTND, liệt sĩ Ngô Đức Mai. Ảnh tư liệu
Ngày 12 tháng 5 năm 1967, Sở chỉ huy Không quân của ta đã phát hiện các tốp máy bay Mỹ bay vào từ hướng Tây Nam nhằm tấn công các mục tiêu xung quanh Hà Nội. Phương án tác chiến được vạch ra là cho các máy bay MiG-17 đánh trước ở vòng trong, còn MiG-21 phục kích ở vòng ngoài. Trận không chiến kinh điển diễn ra.
Biên đội MiG-17 gồm 4 chiếc do các phi công Cao Thanh Tịnh, Lê Hải, Ngô Đức Mai và Hoàng Văn Kỷ điều khiển nhận lệnh cất cánh từ sân bay Gia Lâm hướng về khu vực sân bay Hòa Lạc. Tại đây, biên đội đối đầu trực diện với 4 chiếc F-4 thuộc Không đoàn tiêm kích 366 do Đại tá Norman Gaddis dẫn đầu. Vị Đại tá này là một phi công lão luyện có 20 năm kinh nghiệm, 4.300 giờ bay, từng là Phó ban Tác chiến thuộc Bộ Tham mưu Không quân Mỹ và được mệnh danh là "Chuyên gia diệt MiG" sang Việt Nam để săn lùng không quân ta. Trái lại, Thượng úy Ngô Đức Mai lúc này mới chỉ có khoảng 300 giờ bay và điều khiển chiếc MiG-17 lạc hậu, không có tên lửa tầm xa như đối phương. Khi áp sát trận địa, máy bay Mỹ liên tục phóng tên lửa hung hãn. Dưới sự dẫn dắt sát sao của đài chỉ huy bổ trợ, biên đội ta tách thành hai tốp bám đuổi quyết liệt. Phi công Ngô Đức Mai phối hợp chặt chẽ cùng số 4 Hoàng Văn Kỷ ép sát một chiếc F-4C vừa lao ra khỏi mây. Bằng kỹ thuật điêu luyện, Ngô Đức Mai lừa đối phương vào thế không chiến dính liền để triệt tiêu lợi thế tốc độ của máy bay siêu thanh, sau đó siết cò xả liên tiếp hai loạt đạn pháo chính xác. Chiếc F-4C của Đại tá Norman Gaddis bốc cháy ngùn ngụt rồi rơi xuống khu vực cách sân bay Hòa Lạc 20km. Viên Đại tá Mỹ phải nhảy dù và bị lực lượng dân quân của ta bắt sống. Trận đánh kết thúc thắng lợi rực rỡ khi ta bắn hạ 5 máy bay Mỹ và bảo toàn lực lượng. Chiến công của một phi công trẻ có 300 giờ bay hạ gục một "bậc thầy diệt MiG" có 4.200 giờ bay đã trở thành một hiện tượng chấn động, bẻ gãy huyền thoại về sự bất bại của Không quân Hoa Kỳ và làm nức lòng quân dân cả nước.

Chiếc máy bay MiG-17 do phi công Ngô Đức Mai điều khiển đã bắn hạ
Noóc-man Ga-đi-xơ (được trưng bày tại Bảo tàng Phòng không - Không quân).
Vào ngày 3 tháng 6 năm 1967, trong một trận không chiến dữ dội và không cân sức với đội hình lớn máy bay F-105 và F-4 của Mỹ trên bầu trời Bắc Giang trong những năm tháng vô cùng khốc liệt, Thượng úy Ngô Đức Mai đã anh dũng hy sinh khi đang kiên cường bảo vệ vùng trời của Tổ quốc. Chiếc máy bay cùng thân thể của ông đã ngã xuống đất mẹ tại xã Vũ Xá, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang cũ (địa bàn này qua các đợt sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã nay thuộc xã Cẩm Lý, tỉnh Bắc Ninh mới). Xúc động trước sự hy sinh cao cả của người chiến sĩ không quân, chính quyền và nhân dân địa phương đã tổ chức mai táng và chu đáo chăm sóc phần mộ của ông tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Vũ Xá suốt gần sáu thập kỷ. Đến giữa năm 2025, theo nguyện vọng của gia đình và dòng họ, hài cốt của ông đã được quy tập và đưa về an táng trang trọng tại Khu lăng mộ liệt sỹ ở quê nhà xã Hưng Nguyên Nam, tỉnh Nghệ An.
Để ghi nhận những cống hiến đặc biệt xuất sắc trong cuộc kháng chiến, Thượng úy Ngô Đức Mai đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì và hạng Ba cùng nhiều huân, huy chương cao quý.
Ngày 30 tháng 8 năm 1995, ông chính thức được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bên cạnh đó năm 2010, tên của ông cũng đã được đặt cho một con đường khang trang tại tỉnh Nghệ An như một cách để thế hệ hôm nay và mai sau mãi ghi nhớ về người con ưu tú của quê hương.
Sau ngày Thượng úy Ngô Đức Mai anh dũng hy sinh, những kỷ vật gắn liền với cuộc đời binh nghiệp của ông đã được gia đình trân trọng giữ gìn như những báu vật vô giá. Trong đó, người em út của Anh hùng là ông Ngô Đức Phương (sinh năm 1957, trú tại xóm Làng Đông, xã Hưng Nguyên Nam) đã thay mặt gia đình lưu giữ chiếc áo và đôi tất chân của anh trai suốt nhiều năm. Đến ngày 20/7/1997, với mong muốn lan tỏa tinh thần yêu nước cho thế hệ mai sau, gia đình đã trang trọng hiến tặng lại các kỷ vật này cho Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh.
Bước qua lớp bụi thời gian của gần sáu thập kỷ, chiếc áo khoác sỹ quan dã chiến mang ký hiệu kiểm kê BTNA 4641/V.377- kỷ vật gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt của Thượng úy Ngô Đức Mai - vẫn vẹn nguyên dáng hình của một thời hoa lửa. Chiếc áo có chiều dài 73cm, rộng 45cm, là kiểu quân phục dáng suông, cổ bẻ (cổ đức) bằng chất liệu vải kaki màu vàng cỏ úa đặc trưng của lực lượng Phòng không - Không quân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Màu sắc đặc trưng này giúp cho bộ đội ta ngụy trang tốt trên địa hình dã chiến và phù hợp với điều kiện sinh hoạt chiến đấu thời kỳ đó.
Về cấu trúc hình thái, chiếc áo được thiết kế theo phom dáng sỹ quan dã chiến với hệ thống bốn túi tiện dụng. Trong đó, hai túi ngực phía trên được may theo dạng túi ốp nổi bên ngoài, nổi bật với phần nắp túi cắt cúp hình cánh én nhọn ở chính giữa. Đối xứng phía dưới hai bên hông là hai túi bổ chìm ẩn vào bên trong, phía ngoài được che bằng nắp hình chữ nhật vuông vắn nằm ngang. Để phục vụ cho việc mang cấp hiệu, hai bên bả vai áo được may sẵn phần đỉa vải (quai vai) chắc chắn, đi kèm là các khuyết lỗ nhỏ được gia cố bằng đường chỉ tỉ mỉ để cài chốt giữ cầu vai. Bên cạnh đó, tay áo được thiết kế theo kiểu dáng ống dài với phần cổ tay phẳng và trơn, không bo chun hay bó sát; thiết kế này vừa giữ được sự trang trọng của bộ quân phục, vừa tạo sự thoải mái, giúp phi công dễ dàng thao tác khi điều khiển cần lái máy bay. Trên bề mặt vải đã hằn lên những nếp nhăn tự nhiên, cùng một số vị trí đường may và mép túi đã xuất hiện dấu hiệu sờn nhẹ, bạc màu theo năm tháng.

Chiếc Áo - kỷ vật của anh hùng LLVTND Ngô Đức Mai
Đồng hành cùng chiếc áo dã chiến trong mọi chuyến xuất kích, mảnh ghép tiếp theo cấu thành bộ trang phục bảo hộ bay của người anh hùng là đôi tất len phi công mang cùng số kiểm kê BTNA 4641/V.377 trong bộ sưu tập. Với chiều dài 53cm khoác lên mình sắc nâu đậm mộc mạc, đây không chỉ là vật dụng cá nhân thông thường mà là loại quân trang đặc chủng được cấp phát nhằm bảo vệ sức khỏe cho phi công khi phải tác chiến trong điều kiện khắc nghiệt ở độ cao lớn. Tất được làm từ chất liệu sợi len dày dặn, cho khả năng thấm hút mồ hôi vượt trội và giữ ấm tối ưu cho phi công khi bay ở độ cao lớn - nơi nhiệt độ buồng lái giảm mạnh. Nhờ áp dụng kỹ thuật dệt kim sợi dọc, phần thân tất có độ co giãn linh hoạt và ôm khít lấy bàn chân. Thiết kế cổ cao quá mắt cá chân kết hợp bo chun (bo gân) dày dặn với các đường rãnh tăm nhỏ, giúp cố định tất chắc chắn, tránh bị tuột khi đi bốt bay chuyên dụng và ngăn gió lạnh lùa vào. Trong khi phần thân được dệt trơn mộc mạc, đường lượn gót lại được dệt bo định hình ôm sát theo độ cong tự nhiên của gót chân. Thiết kế này giúp giảm ma sát tối đa, tránh gây phồng rộp da khi phi công di chuyển hoặc đạp bàn đạp điều khiển (pedal) hướng mũi máy bay. Cuối cùng, phần mũi tất được dệt tròn, bo gọn gàng theo các đầu ngón chân để tạo cảm giác thoải mái nhất.

Đôi tất len- Di vật gắn liền với quá trình chiến đấu bảo vệ vùng trời miền Bắc
của Anh hùng liệt sĩ Ngô Đức Mai.
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp ngắn ngủi nhưng đầy vinh quang, Thượng úy Ngô Đức Mai đã xuất kích tổng cộng 63 lần. Bản lĩnh chiến đấu của ông được kết tinh qua lối đánh áp sát dũng cảm, mưu trí, luôn chủ động tạo thế có lợi để tiêu diệt địch và bảo vệ đồng đội. Dù hy sinh ở tuổi 29, những đóng góp và chiến công của ông đã để lại một bài học thực tiễn giá trị cho nghệ thuật quân sự Việt Nam. Việc hạ gục máy bay hiện đại của Không quân Mỹ không chỉ mang ý nghĩa chiến thuật to lớn, khẳng định tính hiệu quả của đường lối chiến tranh nhân dân, mà còn là minh chứng về tinh thần tự lực, tự cường cho các thế hệ sau trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Có thể nói, chiếc áo sỹ quan dã chiến và đôi tất len phi công của Anh hùng liệt sỹ Ngô Đức Mai không chỉ đơn thuần là những vật dụng cá nhân mang tính lịch sử, mà đã trở thành những di vật thiêng liêng, kết tinh tinh thần “quyết chiến, quyết thắng” của Không quân nhân dân Việt Nam. Mỗi vết sờn, mỗi đường chỉ trên các hiện vật đều mang sức mạnh tự sự sâu sắc, minh chứng sinh động cho một giai đoạn đối đầu oanh liệt trên tuyến lửa phòng không miền Bắc, nơi những con người quả cảm đã lấy vũ khí thế hệ cũ để bẻ gãy huyền thoại bất bại của công nghệ chiến tranh hiện đại.
Hiện nay, những kỷ vật vô giá này đang được trân trọng lưu giữ và bảo quản tại Kho cơ sở số 7 của Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh. Để kéo dài tuổi thọ cho các hiện vật có chất liệu hữu cơ dễ phân hủy (vải kaki và sợi len) trước tác động khắc nghiệt của thời tiết, công tác bảo quản dự phòng luôn được thực hiện một cách khoa học, từ việc kiểm soát độ ẩm, nhiệt độ định kỳ cho đến chống nấm mốc và côn trùng xâm hại. Song song với việc lưu kho giữ gìn, bảo tàng cũng đang tích cực phát huy giá trị của sưu tập kỷ vật này thông qua các đợt triển lãm chuyên đề, số hóa tư liệu hiện vật phục vụ công tác trưng bày trực tuyến và giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ. Trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, những kỷ vật của Thượng úy Ngô Đức Mai tại bảo tàng vẫn đang tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao cả: thắp sáng lòng tự hào dân tộc, bồi đắp lý tưởng cách mạng và khát vọng cống hiến cho các thế hệ hôm nay và mai sau trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Tài liệu tham khảo
- Ban Tổng kết - Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu (1995), Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội.
- Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hồ sơ khoa học hiện vật Sưu tập Áo và đôi tất của Anh hùng liệt sĩ Ngô Đức Mai, Kho cơ sở số 7.
- Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không - Không quân (2013), Lịch sử Không quân nhân dân Việt Nam (1955 - 2005), Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội.
- Ngô Đức Phượng, Tư liệu gia đình về Anh hùng liệt sĩ Ngô Đức Mai, tài liệu lưu trữ cá nhân (do em trai liệt sĩ cung cấp), Nghệ An.
- Trung đoàn Không quân 923 (2015), Lịch sử Trung đoàn Không quân tiêm kích 923 (Đoàn Không quân Yên Thế) 1965 - 2015, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội.