530
689
3028
53388
48013
7565654
Đồng chí Lê Văn Kinh - Người chiến sĩ cộng sản kiên trung trong lao tù đế quốc
Đồng chí Lê Văn Kinh (tên thường gọi là Lê Văn Bật) sinh năm 1900 tại làng Lương Sơn, tổng Đặng Sơn, phủ Anh Sơn (nay là xóm Bắc Sơn 2, xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân nghèo, từ sớm phải lao động kiếm sống bằng nhiều công việc nặng nhọc như làm thuê, cuốc mướn, phát rẫy, kiếm củi. Thực tiễn đời sống lao động cực nhọc đã sớm hun đúc ở ông ý chí vượt khó và tinh thần chịu đựng gian khổ cũng như sự thấu hiểu sâu sắc bản chất áp bức của bộ máy thống trị đương thời. Ông là một trong ba đảng viên của Chi bộ “Đ” (hiệu là Chi bộ Bạch Linh), chi bộ Đảng đầu tiên của tổng Đặng Sơn, phủ Anh Sơn. Chi bộ “Đ” được thành lập ngày 15/3/1930 tại đình làng Lương Sơn.

Đồng chí Lê Văn Kinh
Làng Lương Sơn nằm ở khu vực hạ lưu vùng trung lưu sông Lam, giữ vị trí đầu mối giao thương nối liền vùng đồng bằng với các địa bàn trung du, miền núi như Cát Ngạn, Hạnh Lâm, Bồi Sơn, Lưu Sơn. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dưới ách thống trị của thực dân phong kiến, làng Lương Sơn cũng như nhiều vùng quê khác rơi vào cảnh áp bức, bóc lột nặng nề. Bọn cường hào, ác bá hoành hành, khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, tối tăm.
Bên cạnh yếu tố kinh tế, không gian văn hóa Lương Sơn đóng vai trò quan trọng trong việc khai sáng nhận thức cho tầng lớp thanh niên nông thôn. Nhờ vị trí địa lý ven sông và gần trục giao thông, Lương Sơn trở thành nơi dừng chân của nhiều nho sĩ, thầy lang, tri thức bình dân. Những nhân tố này đã đem đến cho làng quê nguồn sinh khí tri thức qua việc dạy chữ Nôm, chữ Quốc ngữ, tiếng Pháp và y học cổ truyền. Mặc dù điều kiện vật chất hết sức thiếu thốn, không có giấy bút chuẩn quy, người học phải dùng son viết lên đất, lên ván gỗ, hoặc dùng gai nhọn khắc chữ lên lá chuối, song chính môi trường giáo dục không chính thức này đã giúp những thanh niên như Bùi Văn Thừa, Bùi Thế Thuận và Lê Văn Kinh sớm tiếp cận văn hóa chữ nghĩa, nâng cao mặt bằng dân trí và từng bước hình thành tư tưởng yêu nước.
Trong giai đoạn 1922-1925, các trí thức yêu nước như đồng chí Tôn Quang Phiệt, Tôn Quang Duyệt, Đặng Thái Thân đã nhiều lần tìm về vùng đất Đặng Sơn để vận động, tuyên truyền lý tưởng giải phóng dân tộc. Việc tiếp cận tác phẩm "Đường kách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc có ý nghĩa quyết định, cung cấp cho thế hệ thanh niên ở Lương Sơn một hệ thống lý luận cách mạng mới về mục tiêu, lực lượng và phương pháp đấu tranh. Dưới sự hướng dẫn của các nhà hoạt động yêu nước, đồng chí Lê Văn Kinh cùng các đồng chí Bùi Văn Thừa, Bùi Thế Thuận đã chủ động tổ chức các hình thức tập hợp quần chúng biến tướng khéo léo. Họ lập ra các tổ chức kinh tế - xã hội truyền thống như phường rẫy chè, phường tranh, phường cút kít, cùng các hình thức tương trợ như hội ái hữu, hội tương tế. Đặc biệt, việc góp vốn mở cửa hàng bán nông cụ sản xuất đã tạo ra một mô hình kết hợp hiệu quả vừa giải quyết nhu cầu vật tư của nông dân, vừa thiết lập một trạm liên lạc bí mật phục vụ việc trao đổi thông tin, cất giấu tài liệu và theo dõi biến động của mật thám Pháp. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt tư tưởng và tổ chức này chính là tiền đề trực tiếp dẫn đến sự kiện thành lập tổ chức Đảng tại địa phương.
Cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Làm nên sức sống mãnh liệt và quy mô sâu rộng của phong trào ấy chính là sự dấn thân, hy sinh của thế hệ đảng viên đầu tiên - những hạt giống đỏ tiên phong gieo mầm cách mạng tại khắp các vùng quê Xô viết.
Ngày 15 tháng 3 năm 1930, tại đình làng Lương Sơn, Chi bộ “Đ” (hiệu là Chi bộ Bạch Linh) chính thức được thành lập do đồng chí Bùi Thế Thuận làm Bí thư. Đây là chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tổng Đặng Sơn, phủ Anh Sơn. Đồng chí Lê Văn Kinh trở thành một trong ba đảng viên sáng lập đầu tiên của chi bộ. Trong sự phân công tổ chức của Chi bộ Bạch Linh, đồng chí Lê Văn Kinh được giao đảm nhiệm công tác tuyên truyền và in ấn tài liệu. Đây là nhiệm vụ trọng yếu nhưng cũng đầy nguy hiểm trong giai đoạn đầu xây dựng phong trào. Bằng các công cụ in ấn thô sơ, ông đã trực tiếp chế bản, nhân bản các tờ truyền đơn, tài liệu tuyên truyền của Đảng, góp phần đưa đường lối đấu tranh cách mạng thâm nhập sâu rộng vào đời sống nhân dân vùng tả ngạn và hữu ngạn sông Lam. Tại địa bàn phủ Anh Sơn (nay là xã Đô Lương, tỉnh Nghệ An), sự ra đời của Chi bộ Bạch Linh (mật danh là Chi bộ “Đ”) vào tháng 3 năm 1930 đã mở ra bước ngoặt quyết định cho phong trào đấu tranh địa phương.
Giai đoạn cao trào cách mạng 1930 - 1931 và những năm sau đó là thời kỳ thử thách nghiệt ngã đối với bản lĩnh chính trị của đồng chí Lê Văn Kinh. Do vai trò tích cực trong công tác vận động quần chúng, trong hai năm 1930 và 1931, ông bị địch bắt giam hai lần tại Nhà lao Vinh và phủ lỵ Anh Sơn. Mặc dù bị dùng nhiều hình thức tra tấn, ông kiên quyết không khai báo, giữ kín bí mật của tổ chức, khiến chính quyền thực dân không đủ chứng cứ pháp lý và buộc phải trả tự do nhưng đặt ông dưới sự giám sát sát sao.
Tháng 8 năm 1930, khi phong trào quần chúng phát triển mạnh, Chi bộ Bạch Linh được tách thành ba chi bộ độc lập nhằm tăng cường sự chỉ đạo trực tiếp. Chi bộ Lương Sơn được thành lập với 9 đảng viên, đồng chí Lê Văn Kinh tiếp tục đảm nhận phụ trách công tác tuyên truyền và in ấn. Khi thực dân Pháp tiến hành chính sách đàn áp khốc liệt nhằm dập tắt phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, hệ thống tổ chức Đảng phải chuyển hoàn toàn sang hoạt động bí mật
Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1931, ông được chỉ định làm Tổng ủy Địa nhị, chịu trách nhiệm in ấn tài liệu và điều hành công tác cứu tế cho các gia đình cơ sở bị khủng bố. Đến tháng 10 năm 1931, ông bị địch bắt lần thứ ba, bị tòa án thực dân kết án 3 năm tù giam và đày về giam giữ tại đồn Thịnh Đức (Yên Thành).
Sau khi mãn hạn tù, trong hoàn cảnh liên lạc với cấp ủy cấp trên bị đứt gãy do hệ thống cơ sở bị phá vỡ, đồng chí Lê Văn Kinh vẫn kiên trì bám dân, cùng các đồng chí còn lại âm thầm tuyên truyền, giữ vững niềm tin cách mạng trong quần chúng. Đến năm 1937, khi chi bộ Đảng tại địa phương được khôi phục, ông tiếp tục tham gia hoạt động và được bổ sung vào Phủ ủy Anh Sơn.
Trong giai đoạn từ năm 1938 đến năm 1940, khi chính quyền thực dân gia tăng kiểm soát do ảnh hưởng của chiến tranh thế giới thứ hai, ông mưu trí ẩn nấp, vượt qua các đợt truy bắt để duy trì mạch hoạt động bí mật.
Đầu năm 1941, ông tham gia phục hồi lại tổ chức Đảng ở địa phương, nhưng đến tháng 6 năm 1941 ông lại bị địch bắt lần thứ tư. Lần này, chính quyền thực dân giam ông tại Nhà lao Vinh, sau đó đưa ông đi đày tại Nhà lao Buôn Ma Thuột - một trong những trại giam khắc nghiệt nhất thời bấy giờ dành cho những nhà hoạt động chính trị kiên trung. Trong khoảng thời gian từ tháng 6 năm 1941 đến tháng 4 năm 1945 tại Nhà lao Buôn Ma Thuột, đồng chí Lê Văn Kinh cùng các tù nhân chính trị khác đã biến nhà tù thực dân thành môi trường rèn luyện ý chí, giữ vững khí tiết và lập trường tư tưởng cộng sản.
Ngay sau khi được ra khỏi Nhà lao Buôn Ma Thuột vào tháng 4 năm 1945, đồng chí Lê Văn Kinh lập tức trở về quê nhà, bắt liên lạc với tổ chức Việt Minh địa phương. Ông tham gia thành lập Mặt trận Việt Minh làng Lương Sơn và được bầu giữ chức Chủ nhiệm. Trên cương vị này, ông đã trực tiếp chỉ đạo công tác vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân chuẩn bị lực lượng cho thời cơ khởi nghĩa. Ngày 23 tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Mặt trận Việt Minh, ông cùng cấp ủy đã vận động nhân dân Đô Lương đồng loạt nổi dậy, lật đổ chính quyền tay sai, thành lập chính quyền cách mạng địa phương.
Trong số những chiến sĩ cộng sản kiên trung sáng lập và gây dựng tổ chức từ những ngày đầu gian khó ấy, đồng chí Lê Văn Kinh nổi bật là một hình mẫu tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, năng lực vận động quần chúng và khí tiết bất khuất trước ngục tù thực dân.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí Lê Văn Kinh tiếp tục được giao đảm nhiệm nhiều vị trí công tác quan trọng trong hệ thống chính quyền và đoàn thể địa phương, như Chủ tịch Ủy ban Hành chính lâm thời xã Tây Sơn, Bí thư Chi bộ xã Tây Sơn, Chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh xã Tây Sơn, Ủy viên Mặt trận Việt Minh phủ Anh Sơn. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, ông được điều động công tác tại nhiều địa bàn thuộc tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An trên các lĩnh vực khác nhau.
Năm 1962, ông nghỉ hưu theo chế độ nhưng vẫn tiếp tục tham gia công tác chính trị - xã hội tại địa phương cho đến năm 1973 ông mất. Tính từ thời điểm bắt đầu hoạt động cách mạng vào tháng 2 năm 1929, đồng chí Lê Văn Kinh đã có gần 45 năm cống hiến liên tục cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Là một trong những hạt nhân đầu tiên của Chi bộ Bạch Linh, ông đã thể hiện năng lực tổ chức thực tiễn linh hoạt thông qua việc kết hợp giữa các mô hình hội quần chúng truyền thống với công tác tuyên truyền bí mật. Trải qua nhiều lần bị bắt giam, tù đày tại các nhà lao khắc nghiệt như Nhà lao Vinh, đồn Thịnh Đức và Nhà lao Buôn Ma Thuột, sự kiên định lập trường của đồng chí Lê Văn Kinh là minh chứng cho bản lĩnh chính trị và khí tiết của thế hệ chiến sĩ cộng sản thời kỳ Xô viết Nghệ Tĩnh.
Với những cống hiến tiêu biểu trong cao trào cách mạng 1930-1931 và các giai đoạn kháng chiến cứu nước, đồng chí Lê Văn Kinh đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, tiêu biểu như Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhất.
Cuộc đời hoạt động kiên trung cùng tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của đồng chí Lê Văn Kinh là bài học sâu sắc về bản lĩnh chính trị và khí tiết người cộng sản. Những cống hiến bền bỉ ấy không chỉ góp phần làm phong phú thêm truyền thống đấu tranh cách mạng của địa phương, mà còn là chất liệu vô giá cho công tác giáo dục lịch sử, bồi dưỡng lý tưởng cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau.
Đồng chí là minh chứng sống động cho thế hệ đảng viên tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam- những người dấn thân trọn vẹn, sẵn sàng vượt qua muôn vàn gian khổ trong những ngày đầu gieo mầm cách mạng. Một tấm gương trọn vẹn cho khí tiết “sống cùng Đảng, chết không rời Đảng”. Dù trải qua nhiều lần bị địch bắt bớ, tra tấn và đày ải qua khắp các nhà lao khắc nghiệt từ Vinh, đồn Thịnh Đức đến Buôn Ma Thuột, đồng chí vẫn giữ vững niềm tin sắt đá, kiên trì bám dân, gây dựng cơ sở và cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tên tuổi và di sản của đồng chí Lê Văn Kinh sẽ mãi là niềm tự hào bất tử của quê hương Đô Lương nói riêng và vùng đất Xô viết Nghệ An nói chung.
Tài liệu tham khảo:
1. Lịch sử Đảng bộ huyện Đô Lương (1930 - 2020), Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Đô Lương, Nxb. Nghệ An, 2020.
2. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An (1930 - 1954), Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2010.
3. Lịch sử Đảng bộ xã Bắc Sơn (1930 - 2018), Ban Chấp hành Đảng bộ xã Bắc Sơn, Nxb. Nghệ An, 2018.
4. Lý lịch đảng viên của đồng chí Lê Văn Kinh, Tài liệu lưu trữ tại Đảng ủy xã Đô Lương, Nghệ An.
5. Thế hệ đảng viên đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930 - 1931), Viện Lịch sử Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005.