Đôi nét về Sưu tập đồ dùng sinh hoạt thời tiền sơ sử tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh

Tác giả: Hoàng Thị Minh
Ngày 2026-07-09 08:51:58

Trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, thời kỳ tiền sơ sử giữ vai trò đặc biệt quan trọng, đánh dấu những biến đổi căn bản trong đời sống vật chất và tinh thần của con người. Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội nguyên thủy sang những hình thái xã hội có tổ chức sơ khai, khi con người bắt đầu định cư lâu dài, phát triển sản xuất và hình thành những nền tảng đầu tiên của văn hóa vật chất.

Thời kỳ tiền sơ sử ở Việt Nam thường gắn liền với các nền văn hóa khảo cổ thuộc thời kỳ đồ đá và sơ kỳ kim khí, tiêu biểu bởi sự xuất hiện của công cụ đá mài, đồ gốm và những dấu hiệu ban đầu của kỹ thuật luyện kim. Trong giai đoạn này, con người đã có những bước tiến quan trọng trong chế tác công cụ, biết trồng trọt, chăn nuôi và hình thành các cộng đồng cư dân tương đối ổn định. Đồng thời, đời sống tinh thần cũng có nhiều chuyển biến, thể hiện qua tín ngưỡng nguyên thủy, phong tục mai táng và các hình thức nghệ thuật sơ khai.

Tại Nghệ An, các di tích thuộc thời kỳ tiền sơ sử phân bố rộng khắp từ miền núi đến đồng bằng ven biển, gắn với các nền văn hóa như: Sơn Vi, Hòa Bình, Quỳnh Văn, Bàu Tró, Tiền Đông Sơn và Đông Sơn. Hiện nay, Bảo tàng Nghệ An - Xô Viết Nghệ Tĩnh đang lưu giữ nhiều sưu tập hiện vật tiêu biểu của giai đoạn này, trong đó nổi bật là sưu tập đồ dùng sinh hoạt. Sưu tập gồm 212 hiện vật, trong đó văn hóa Hòa Bình: 37 hiện vật, văn hóa Quỳnh Văn: 14 hiện vật, văn hóa Bàu Tró: 16 hiện vật, văn hóa Tiền Đông Sơn: 17 hiện vật và văn hóa Đông Sơn chiếm số lượng nhiều nhất với 128 hiện vật. Sưu tập không chỉ nhiều về số lượng, đa dạng về chất liệu mà còn phong phú về loại hình, như: Chày, chày nghiền, bàn nghiền, thổ hoàng, nồi, bát, vò, bình, lọ, thố, thạp, chõ xôi, quả cân, nắp, muôi, mảnh khay, gương, ấm. Những hiện vật này không phải được tìm thấy ở một vài địa điểm mà có tới 15 địa điểm được phát hiện, như: Diễn Châu, Vinh, Nam Đàn, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Nghĩa Đàn, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, Con Cuông, Quỳ Châu, Tương Dương, Anh Sơn, Quỳ Hợp. Bảng số liệu sau đây sẽ thể hiện rõ số lượng hiện vật được phát hiện tại các địa điểm trên địa bàn tỉnh Nghệ An. 

               

Stt

Địa điểm phát hiện

Số lượng

Tỷ lệ %

 

Miền núi

123

58

1

Huyện Nghĩa Đàn

79

37,3

2

Huyện Anh Sơn

14

6,5

3

Huyện Quỳ Châu

7

3,3

4

Huyện Tương Dương

5

2,4

5

Huyện Quỳ Hợp

1

0,5

6

Huyện Tân Kỳ

10

4,7

7

Con Cuông

6

2,8

8

Kỳ Sơn

1

0,5

 

Đồng Bằng

89

42

9

Huyện Hưng Nguyên

3

1,4

10

Thành Phố Vinh

1

0,5

11

Huyện Nam Đàn

17

8,0

12

Diễn châu

30

14,1

13

Nghi Lộc

8

3,8

14

Quỳnh Lưu

18

8,5

15

Yên Thành

1

0,5

16

Không rõ địa điểm

11

5,2

Tổng

212

100%

Bảng 1: Địa điểm phát hiện hiện vật đồ dùng sinh hoạt thời tiền sơ sử hiện lưu giữ và bảo quản tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Số liệu thống kê cho thấy, trong tổng số 212 hiện vật thuộc sưu tập đồ dùng sinh hoạt thời tiền sơ sử, khu vực miền núi chiếm 123 hiện vật (58%), trong khi đồng bằng chiếm 89 hiện vật (42%). Sự chênh lệch này phản ánh nhiều yếu tố liên quan đến điều kiện tự nhiên, lịch sử cư trú cũng như đặc điểm khảo cổ học của từng khu vực.

Trước hết, tỷ lệ hiện vật cao ở miền núi cho thấy đây có thể là khu vực cư trú sớm và liên tục của cư dân tiền sơ sử. Các địa điểm như Nghĩa Đàn, Anh Sơn, Tân Kỳ hay Con Cuông đều nằm trong vùng trung du - miền núi, nơi có hệ thống hang động, thềm sông và nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú. Đây là những điều kiện thuận lợi cho cư dân thời kỳ hậu đồ đá sinh sống, khai thác và duy trì các hoạt động sinh hoạt truyền thống. Đặc biệt, riêng Nghĩa Đàn đã chiếm tới 79 hiện vật (37,3% tổng số), cho thấy đây là một trong những trung tâm cư trú quan trọng của cư dân Việt cổ.

Ngược lại, khu vực đồng bằng tuy có số lượng hiện vật thấp hơn nhưng vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể (42%), cho thấy đây cũng là không gian cư trú quan trọng, đặc biệt trong các giai đoạn muộn hơn như văn hóa Đông Sơn. Các địa điểm như Diễn Châu, Quỳnh Lưu và Nam Đàn có số lượng hiện vật tương đối cao, phản ánh sự phát triển của các cộng đồng cư dân định cư gắn với sản xuất nông nghiệp.

Ngoài ra, sự phân bố này còn phản ánh xu hướng dịch chuyển không gian cư trú của cư dân Việt cổ. Nếu ở giai đoạn sớm, con người chủ yếu sinh sống ở miền núi và trung du, thì về sau cùng với sự phát triển của nông nghiệp, cư dân dần mở rộng xuống khu vực đồng bằng ven biển và châu thổ.

Sự dịch chuyển và mở rộng về địa bàn cư trú này không chỉ thay đổi phương thức sinh tồn mà còn gắn liền với những bước tiến dài trong tư duy, kỹ thuật chế tác đồ dùng sinh hoạt. Cư dân tiền sơ sử Nghệ An tại mỗi vùng địa lý khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và nhu cầu sinh hoạt, đã biết khai thác và chế tác các loại nguyên liệu phù hợp, từ thô sơ đến phức tạp để chế tác đồ dùng sinh hoạt. Qua nghiên cứu và tìm hiểu, sưu tập đồ dùng sinh hoạt tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh có thể phân chia đồ dùng sinh hoạt được chế tác từ 03 nhóm chất liệu chính: đá, đất nung và đồ đồng

 

STT

Chất liệu

Số lượng

Tỷ lệ %

1

Đá

78

36,8

2

Đất nung

80

37,7

3

Đồng

54

25,5

Tổng

212

100%

Bảng 2: Nhóm chất liệu chế tác đồ dùng sinh hoạt tiền sơ sử tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Nhóm hiện vật chất liệu đá gồm 78 đơn vị, tập trung chủ yếu ở các tầng văn hóa sớm như Hòa Bình, Quỳnh Văn và Bàu Tró. Loại hình chủ yếu là chày, chày nghiền, bàn nghiền và thổ hoàng, trong đó chày và chày nghiền chiếm ưu thế. Các công cụ này thường được chế tác từ cuội tự nhiên, có hình trụ hoặc dạng quả cân, với dấu vết mòn rõ rệt ở đầu công cụ, phản ánh quá trình sử dụng lâu dài trong các hoạt động đập, giã và chà xát. Sự kết hợp giữa chày và bàn nghiền cho thấy vai trò của chúng trong chế biến thực phẩm, đặc biệt là các loại hạt, quả hoặc nhuyễn thể. Bên cạnh đó, sự xuất hiện của thổ hoàng – một loại khoáng chất màu đỏ – cho thấy nhận thức ban đầu về vật liệu tạo màu, có thể liên quan đến trang trí gốm hoặc các thực hành nghi lễ.

 

Ảnh 1: Đồ dùng sinh hoạt chất liệu đá.

Nhóm hiện vật chất liệu đất nung (gốm) gồm 80 hiện vật, chiếm tỷ lệ cao nhất trong sưu tập, phản ánh vai trò thiết yếu của đồ gốm trong đời sống cư dân tiền sơ sử. Các hiện vật chủ yếu thuộc văn hóa Đông Sơn, với sự đa dạng về loại hình như nồi, bát, vò, bình, chõ xôi, lọ, thạp, nắp… Trong đó, nồi và bát là hai loại hình phổ biến nhất, gắn liền với nhu cầu nấu nướng và ăn uống. Hình thái gốm nhìn chung đơn giản, thiên về công năng sử dụng với các đặc điểm như miệng loe, thân phình, đáy đa dạng. Hoa văn trang trí không phổ biến, chủ yếu là các dạng đơn giản như chấm dải, khắc vạch hoặc hình học cơ bản. Một số loại hình như chõ xôi với hệ thống lỗ thoát hơi cho thấy sự hiểu biết nhất định về kỹ thuật chế biến thực phẩm. Sự phong phú về loại hình và số lượng của đồ gốm khẳng định vai trò chủ đạo của chất liệu này trong đời sống sinh hoạt.

 

 

Ảnh 2: Đồ dùng sinh hoạt chất liệu gốm

Nhóm hiện vật chất liệu đồng gồm 54 đơn vị, xuất hiện chủ yếu trong văn hóa Đông Sơn. So với đá và gốm, đồ đồng có số lượng ít hơn, phản ánh tính chất quý hiếm và kỹ thuật chế tác phức tạp của loại vật liệu này. Các loại hình gồm thạp, âu, bát, thố, nồi, muôi, gương, ấm…, trong đó thạp là loại hình tiêu biểu và chiếm tỷ lệ cao nhất. Đồ đồng thể hiện trình độ luyện kim phát triển, cho phép tạo ra các sản phẩm có hình khối hoàn chỉnh, độ bền cao và tính thẩm mỹ nhất định. Hoa văn trang trí chủ yếu là các mô típ hình học như vòng tròn, răng cưa, đường song song…, được bố trí thành các băng trang trí rõ ràng.

 

Ảnh 3: Đồ dùng sinh hoạt chất liệu đồng

Ngoài các chất liệu kể trên, có thể giả định rằng cư dân tiền sơ sử còn sử dụng phổ biến các vật liệu hữu cơ như gỗ, tre, nứa, lá trong đời sống sinh hoạt. Tuy nhiên, do đặc tính dễ phân hủy, các hiện vật này hầu như không còn được bảo tồn trong di tích khảo cổ. Việc nghiên cứu nhóm vật liệu này chủ yếu dựa vào các chứng cứ gián tiếp như dấu vết trên đồ gốm, công cụ sản xuất hoặc điều kiện môi trường và đặc điểm kinh tế – văn hóa của cư dân cổ.

Sự phát triển từ đồ đá sang đồ gốm lên đồ đồng trong sưu tập đồ dùng sinh hoạt thời tiền sơ sử tại Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh chính là tấm gương phản chiếu sự phát triển xã hội của cư dân Việt cổ ở khu vực này. Cư dân Việt cổ đã đi một chặng đường dài từ việc thích ứng, nương tựa vào tự nhiên (đồ đá) đến làm chủ kỹ thuật và cải thiện sinh hoạt (đồ gốm), để rồi cuối cùng đạt đến đỉnh cao kỹ thuật chế tác (đồ đồng). Sự kế thừa liên tục giữa các giai đoạn văn hóa này đã tạo nên nền tảng vững chắc cho sự hình thành các tổ chức xã hội đầu tiên của người Việt cổ./.

 

Video