527
689
3025
53385
48013
7565651
Bà Trần Thị Thông sinh năm 1946 tại xã Thọ Thành, huyện Yên Thành (nay là xã Đồng Thành, tỉnh Nghệ An). Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn cam go, nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, cô gái trẻ Trần Thị Thông khi đó mới tròn 19 tuổi đã tình nguyện gia nhập lực lượng Thanh niên xung phong. Trước khi về Truông Bồn, bà có mặt tại nhiều điểm nóng đánh phá của máy bay Mỹ trên đất Nghệ An, như: cầu Cấm ở Nghi Lộc, rú Ðụn ở Nam Ðàn,... Bà được phân công vào Đại đội C317 - Đội 65 và nhanh chóng tỏ rõ năng lực chỉ huy, sự dũng cảm nên được bầu làm Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2. Đây là tiểu đội trực tiếp làm nhiệm vụ rà phá bom mìn, san lấp hố bom, mở đường cho những đoàn xe vận tải hướng về miền Nam ruột thịt tại yết hầu giao thông Truông Bồn xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương (nay là xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An). "Ban ngày san lấp đường, ban đêm chúng tôi cùng nhau làm nhiệm vụ dẫn đường cho ô tô đi qua. Do đêm tối, thời gian đầu, chúng tôi nghĩ ra cách dùng bẹ chuối rải trên đường để xe nhận biết lối đi. Thế nhưng máy bay Mỹ ném bom liên tục, bẹ chuối xe đi qua một vài lần đã nát bươm nên cuối cùng, chúng tôi đã dùng thân mình làm "cọc tiêu di động" để dẫn xe qua "tọa độ chết" Truông Bồn", bà Thông nhớ lại.
Bà Trần Thị Thông - Tiểu đội trưởng C317 - Đội 65 Thanh niên xung phong (TNXP) Nghệ An ngày trẻ
Truông Bồn là một đoạn đèo dốc có chiều dài 15km, độ cao gần 70m trên dãy núi Thung Nưa có độ cao 450m so với mực nước biển, nằm trên tuyến đường chiến lược 15A (còn gọi là đường 30) chạy qua địa phận xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An (nay là xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An). Ðây là tuyến độc đạo, là nơi duy nhất nối các huyết mạch giao thông quan trọng để chi viện hàng hóa, vũ khí, lương thực từ Bắc vào Nam. Bởi vậy, Truông Bồn được gọi là yết hầu vận tải là "cổ họng" "cán xoong" nên chúng đã không tiếc bom đạn hủy diệt, tập trung đánh phá hòng chặt đứt mạch máu giao thông của ta. Chỉ tính riêng từ năm 1964 đến 1968, không quân Mỹ đã trút xuống Truông Bồn 18.936 quả bom các loại và hàng nghìn quả tên lửa, rốc-két. Thời kỳ chống Mỹ, nhắc đến Truông Bồn, người ta có cảm giác lạnh gáy, nào ai có dám qua nơi đó vì ở đó giặc đánh cả ngày và đêm. Ấy vậy mà các chiến sỹ đơn vị C317 lăn lộn khắp các nẻo đường đánh Mỹ giờ lại theo tiếng gọi của Đảng "đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên" đã đến miền đất lửa này. Trong họ có đầy đủ phẩm chất cách mạng tuổi đời chỉ từ 17 đến 20. Họ thách thức với bom đạn và coi cái chết nhẹ tựa lông hồng để giữ đường thông xe. Ở Truông Bồn, thời tiết khắc nghiệt, nắng thì bỏng da cháy thịt, mưa thì giầm giề lạnh đến buốt xương. Đường sá lầy lội, hiểm trở. Có những ngày cao điểm, chúng thả 131 lần bom, lương thực chưa cung cấp đầy đủ cả đơn vị chia nhau từng nắm mì luộc chấm muối vừng. Bom đạn, vất vả thiếu thốn là vậy nhưng họ không ngại hiểm nguy gian khổ luôn quyết tâm giữ bằng được mạch máu giao thông thông suốt với tinh thần: "Đường chưa thông không tiếc máu xương". Trong đêm tối đường gập ghềnh, xe đi không được bật đèn làm sao đưa xe qua đường an toàn? Các chị đã cởi áo ngoài mặc áo lót đi trước để dẫn xe qua. Họ đứng suốt dọc 5 cây số đường. "Những cọc tiêu sống" ấy đã chạy một người 400m dẫn xe đến bàn giao rồi lùi lại dẫn xe tiếp theo. Hơn 100 ngày đêm bảo đảm giao thông 24/24 tại Truông Bồn.
Được lệnh của ban chỉ huy cho phép Đại đội 317 xét một số đồng chí đã hết nhiệm kỳ 3 năm được xuất ngũ, nhưng trong họ không ai muốn rời, họ muốn ở lại chiến đấu cùng đơn vị một đêm nữa với tinh thần "Một giờ còn ở lại đơn vị là một giờ còn ra hiện trường”. Những chiến sỹ thanh niên xung phong của chúng ta là vậy đó. Họ tạm gác những hạnh phúc riêng tư, những khát khao đời thường. Họ biết ranh giới giữa sự sống và cái chết rất mong manh. Nhưng với một tinh thần lạc quan, một ý chí kiên trung, một lòng yêu nước vô bờ bến, họ sẵn sàng đánh đổi tất cả những dự định, những ước mơ và cả tính mạng của mình để cấp tốc giải phóng giao thông cho đoàn xe vượt qua Truông Bôn trước khi trời sáng. Đêm đó, cả đơn vị tổ chức liên hoan vì chỉ còn một ngày nữa họ sẽ chia tay với đồng đội, với những đêm dài không ngủ. Chị Đang khoe với đồng đội: "Ả Thông ơi! bữa ni tui có tin vui, có thư người yêu gửi. Tui muốn chia sẻ niềm vui với mọi người. Anh ấy động viên tui hoàn thành nhiệm vụ, ở chiến trường anh cũng cố gắng lập công hẹn ngày thống nhất sẽ cùng nhau đoàn tụ". Mới hôm qua chị Phan Thị Dung còn đi thăm em gái trong bộ đồ TNXP xanh bạc màu nắng gió có ai ngờ đó là cuộc gặp gỡ nhau lần cuối của chị em họ. Và còn lá thư bút tích duy nhất còn lại của chị Nguyễn Thị Phúc gửi cho người bạn trai đồng hương, lời thư mộc mạc nhưng chân thành. Những cánh thư đi thư về là những nỗi niềm, là tình đồng chí, đồng hương và là tình yêu đôi lứa, là những lời động viên nhau hoàn thành nhiệm vụ. Tất cả đều đang dang dở. Có một đôi yêu nhau đang chuẩn bị tổ chức lễ cưới, bốn đồng chí đã có giấy gọi nhập học: Trần Thị Doãn, Hà Thị Đang, Hoàng Thị Nhung, Phan Thị Dung.
Ấy vậy mà niềm vui ngắn chẳng tày gang những ước mơ, hoài bão, hạnh phúc và tương lai đang rộng mở nếu như không có ngày định mệnh 31/10/1968. Để đảm bảo cho đoàn xe quân sự vượt qua huyết mạch trước khi trời sáng,Tiểu đội 2 của bà Trần Thị Thông cùng các chiến sĩ C317 đã ra trận địa từ rất sớm để san lấp hố bom. Đúng 4h30 sáng ngày 31/10/1968 có tiếng kẻng và mọi người nhận phần cơm của mình. Khẩu phần chỉ là một vắt mì luộc chấm muối vừng. 5h ra hiện trường khi máy bay Mỹ vẫn gầm rú gào thét như xé nát cả bầu trời Mỹ Sơn, họ vẫn lạc quan làm quên cả sợ vì sự sống của đoạn đường. Đến 6h10 phút khi công việc sắp hoàn tất theo kế hoạch bất ngờ có báo động. Các đồng chí ở đơn vị đã rút về hầm ẩn trú, riêng 14 đồng chí được phân công trực chiến nên phải ở lại quan sát. Ngay lúc đó, một tốp 4 chiếc máy bay Mỹ điên cuồng gầm rú và trút hai loạt với 238 quả bom, Truông Bồn chìm trong khói lửa. "Tôi chỉ kịp đẩy anh Hòa xuống hầm, vội với lấy cây súng và lao theo, sau đó thì không biết chi cả" bà Thông kể.
Ngớt tiếng bom đồng đội, nhân dân xã Mỹ Sơn chạy ra hiện trường, cả hiện trường chìm trong khói bom - đào bới tìm kiếm mãi thì tìm được đồng chí Thông, bà Thông được cứu sống nhờ nòng súng chĩa lên mặt đất, sau đó được đưa về nhà mẹ Nguyễn Thị Thởm ở xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương trong tình trạng bất tỉnh, áo quần bê bết bùn đất, hơi thở rất yếu. Sau hai ngày tìm kiếm, cuối cùng tìm thêm được 5 đồng chí còn nguyên vẹn. Đồng chí Trần Văn Hạp lúc hy sinh miệng vẫn đang ngậm chiếc còi vì anh được phân công gác máy bay. Chị Vũ Thị Hiên trên tay vẫn cột chiếc khăn mùi soa và một số giấy tờ như tem phiếu gạo, giấy kết nạp sinh hoạt Đảng... Còn lại 7 đồng chí chỉ nhặt được một phần ít. Máu thịt của họ đã hòa cùng với con đường, với cát bụi Mỹ Sơn anh hùng. 13/14 chiến sỹ TNXP C317 đã mãi mãi ra đi. Các anh chị đã dâng trọn tuổi thanh xuân của mình cho Tổ quốc, mãi mãi canh giữ cho con đường không bao giờ tắc.
Trở về từ cõi chết với cơ thể mang đầy thương tích (thương binh hạng 2/4), mất đi 13 người đồng đội thân thiết như ruột thịt là một vết thương lòng không bao giờ lành đối với bà Thông. Sau chiến tranh, bà lập gia đình với một người lính phục viên và sinh sống tại khối Yên Duệ, phường Đông Vĩnh, Tp Vinh (nay là phường Thành Vinh, tỉnh Nghệ An). Bị thương tật, bà được chuyển ngành về công tác tại công ty may Việt Đức. Sau 13 năm công tác, bà xin nghỉ mất sức. Cuộc sống đời thường của người cựu TNXP gặp không ít khó khăn về kinh tế lẫn sức khỏe do ảnh hưởng của vết thương chiến tranh và di chứng bom đạn nhưng bà vẫn luôn giữ vững phẩm chất của người chiến sĩ TNXP năm xưa: giản dị, kiên cường và đầy lòng nhân ái. Hàng chục năm qua, bà Trần Thị Thông luôn là "nhân chứng sống" quan trọng nhất kể lại câu chuyện Truông Bồn cho các thế hệ. Bà thường xuyên tham gia các hoạt động tri ân, gặp mặt nhân chứng lịch sử và là người trông nom, nhang khói cho các đồng đội tại Khu di tích lịch sử Quốc gia Truông Bồn trong nhiều dịp kỷ niệm.
Chiếc Bi đông này được cấp phát ngày bà nhập ngũ và là kỷ vật duy nhất bà Thông còn giữ được sau sự kiện ngày 31/10/1968. Bi đông hình bầu dục dẹt, được chế tác bằng hợp kim nhôm, màu xanh rêu cao 18cm, chu vi 12cm, đường kính miệng 2cm. gồm có 2 bộ phận: nắp và thân. Thân phình to ở giữa và dẹt lại hai bên mặt để người chiến sĩ dễ dàng đeo sát vào hông khi di chuyển, hành quân mà không bị rung lắc, vướng víu, trên thân có viết chữ số 3 bằng sơn màu trắng. Cổ thu nhỏ hướng lên trên nối liền với chiếc nắp xoáy bằng nhựa cứng màu đen. Nắp bình được thiết kế các đường rãnh dọc song song đều đặn giúp tăng ma sát, tạo điều kiện thuận lợi cho người lính dễ dàng vặn mở ngay cả khi tay đang ướt, dính bùn hoặc khói bom. Tình trạng tróc sơn nhiều chỗ, bị móp do tác động của thời gian và quá trình bị chôn vùi.
Chiếc Bi đông không còn là một vật dụng chứa nước đơn thuần, mà đã hóa thân thành một "nhân chứng sống". Nó phản ánh chân thực cuộc sống gian khổ, tinh thần kiên cường kiên trung của lực lượng TNXP. Đồng thời, sự tồn tại của chiếc Bi đông bên cạnh người duy nhất sống sót giống như một sợi dây neo giữ ký ức, là mảnh linh hồn còn sót lại của 13 liệt sĩ đã ngã xuống trong buổi sáng định mệnh tại Truông Bồn.

Bi đông của bà Trần Thị Thông - Tiểu đội trưởng C317 - Đội 65 Thanh niên xung phong (TNXP) Nghệ An tại Truông Bồn
Năm 2008, tập thể 14 chiến sỹ- C317 đã được Nhà Nước phong tặng Danh hiệu anh hùng LLVT nhân dân. Những chiến sĩ dũng cảm làm nên “Huyền thoại Truông Bồn” trở thành bất tử, là biểu tượng thiêng liêng cao quý sáng ngời cho mọi thế hệ và là sức mạnh chiến thắng của nhân dân ta trên mặt trận giao thông vận tải.
Tài liệu tham khảo:
- Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hồ sơ khoa học hiện vật: Bi đông của bà Trần Thị Thông (lưu trữ tại kho Kiểm kê - Bảo quản).
- Lời kể của bà Trần Thị Thông, nguyên Tiểu đội trưởng C317 - Đội 65 Thanh niên xung phong (TNXP) Nghệ An tại Truông Bồn.
- Theo tài liệu của Khu Di tích lịch sử Truông Bồn, xã Bạch Hà, tỉnh Nghệ An