Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Mão và ký ức chiến trường qua hai kỷ vật

Tác giả: Đinh Thị Ánh Tuyết
Ngày 2026-06-18 10:14:36

 

Đồng chí Nguyễn Văn Mão sinh năm 1939 tại xóm 5, xã Xuân Hòa, huyện Nam Đàn (nay là xã Vạn An), tỉnh Nghệ An - mảnh đất giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Ngày 19/02/1965, giữa bối cảnh đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, đồng chí đã xung phong nhập ngũ, biên chế vào Đại đội pháo cao xạ, Tiểu đoàn 14, thuộc Trung đoàn 214 (Quân khu 4), trực tiếp chiến đấu tại mặt trận gian khổ Quảng Bình và Vĩnh Linh - Quảng Trị. Nhiệm vụ của đại đội là bảo vệ những công trình giao thông trọng yếu cùng những chuyến hàng tiếp viện cho chiến trường miền Nam.

Ngay từ những ngày đầu nhập ngũ, đồng chí Nguyễn Văn Mão đã thể hiện sự nhanh nhẹn và tinh thần trách nhiệm cao trong nhiệm vụ chuyển đạn cho các khẩu đội pháo bắn máy bay Mỹ. Đồng chí chạy thoăn thoắt, không để đồng đội thiếu một viên. Đạn bị dính bẩn, đồng chí đã cởi áo của mình ra lau, không chỉ tiếp tế đủ đạn cho khẩu đội mình, mà đồng chí còn chuyển thêm đạn cho khẩu đội bạn. Chỉ ít tháng đầu ra chiến trận, đồng chí Nguyễn Văn Mão đã gây ấn tượng với cả đơn vị bằng sự nhanh nhẹn, nhiệt tình và gan dạ.

Cuối năm đó, đại đội nhận một loại pháo mới và được điều lên chốt ở đỉnh đèo, cũng là lúc khẩu phần ăn của anh em trong đơn vị lại bị giảm so với trước bởi khâu vận chuyển, tiếp tế khó khăn. Sức khỏe của bộ đội bị giảm sút. Khi ấy, lãnh đạo đơn vị nhận thấy rất cần phải chọn trong đội ngũ đảng viên một đồng chí có tinh thần trách nhiệm cao, có sức khỏe tốt để hàng ngày có thể đưa cơm lên trận địa. Và người được chọn chính là đồng chí Mão.

Theo lời anh hùng LLVT Nguyễn Văn Mão kể: Ban đầu nhiệm vụ chính của ông là vận chuyển cơm nước cho đồng đội. Dọc đường lên trận địa dốc dựng đứng, lượn vòng theo hình trôn ốc và lỗ chỗ những vết đạn, hố bom nhưng ngày ngày người chiến sĩ với vóc dáng nhỏ bé vẫn đều đặn quảy gánh cơm nặng trĩu tiếp tế cho đồng đội không quản nắng mưa, lửa đạn. Đường lên tới trận địa dài hơn 3km, gập ghềnh bởi những hố bom hay đạn pháo cày xới, nhiều đoạn đường dốc dựng đứng. Mỗi chuyến tôi phải gánh cơm4 thùng nước nặng đến 100kg(1).

Tiếp nhận nhiệm vụ nuôi quân được nửa tháng, đồng chí Nguyễn Văn Mão đã chủ động tìm cách khai thác nhiều nguồn thực phẩm mới như hái rau dại, men theo bờ sông bắt cá tươi để cải thiện bữa ăn cho đồng đội. Không quản ngại lặn lội trong rừng sâu tìm rau củ, người chiến sĩ trẻ còn tự mình dòng dây kéo thuyền, lội nước đẩy ghe dọc bờ sông tìm tôm cá, bắt ốc. Mỗi ngày đi tiếp phẩm, đồng chí đều cố gắng học cách nấu các món ăn địa phương. Thấy bếp đơn vị bạn chăn nuôi hiệu quả, được sự chấp thuận của thủ trưởng, đồng chí cũng đảm nhiệm thêm việc nuôi lợn, nuôi bò. Đồng chí thường xuyên thức khuya, dậy sớm, dồn hết tâm sức lo cho đơn vị có những bữa cơm ngon để anh em ấm lòng, có đủ sức khỏe chiến đấu.

Nhận thấy nhà bếp tiêu thụ lượng củi lớn mỗi ngày, đồng chí tự lượng sức mình, mỗi khi gánh bát đĩa xuống núi cọ rửa đều cố mang thêm vài chục cân củi về. Nhờ vậy, mỗi ngày đồng chí đưa được gần một tạ củi từ trên đồi cao xuống bếp. Nhiều đêm, người chiến sĩ ấy quên cả ngủ, chỉ đau đáu làm sao cho bộ đội ăn ngon. Khi phần việc của “anh nuôi” vừa hoàng thành, không kịp nghỉ ngơi, đồng chí lại xông xáo tham gia vác đạn cho khẩu đội 5, lúc lao đạn gấp cho khẩu đội 6, hoặc thay thế vị trí của các pháo thủ bị thương.

Ngày 24/4/1966, trong một trận chiến bảo vệ bến phà sông Gianh, một quả bom nổ gần hầm pháo khiến đồng chí Mão và đồng đội bị vùi kín. Mọi người chưa kịp đến ứng cứu, đồng chí đã tự lực đội đất ngoi lên. Không chút chậm trễ, đồng chí dùng tay trần đào bới, kịp thời cứu sống nhiều đồng đội còn mắc kẹt. Vừa đưa anh em ra khỏi trận địa, khi trở lại vị trí chiến đấu, đồng chí lại bị trúng thương lần thứ hai. Lần này, tai trái bị điếc, sức ép của bom khiến chân tay cứng đờ, phải chuyển về bệnh viện tuyến sau. Sau này, đồng chí nhớ lại: “Nằm trong viện nhưng đầu óc tôi vẫn nghĩ đến những việc ở đơn vị. Cứ nhìn thấy đạn pháo bay đầy trời là lòng lại sôi sục, tôi xin xuất viện sớm. Năn nỉ mãi bác sĩ cũng phải đồng ý" (2).

Trong trận đánh đầu tháng 4/1968, đồng chí Nguyễn Văn Mão được cử làm khẩu đội trưởng. Đúng lúc những đường đạn của khẩu đội phối hợp với lưới lửa toàn quân quật ngã “thần sấm” Hoa Kỳ, đồng chí lại bị sức ép bom hất văng ra xa, một chân bị kẹp cứng giữa hòm đạn và càng pháo. Chiếc chân bị tụ máu tê dại, không thể cử động, nhưng đồng chí nhất quyết không chịu nằm cáng mà nằng nặc đòi tự bò ra khu vực tập kết của thương binh. Đồng chí bảo: “Còn có nhiều anh em cần dùng cáng hơn mình”. Lần ấy, Nguyễn Văn Mão phải nằm viện suốt 3 tháng, ngoài chiếc chân bị thương nặng, đồng chí còn mất 5 chiếc răng và tổn thương vùng phổi. Dẫu vậy, lòng ông như lửa đốt khi nhận tin từ tiền tuyến, chỉ mong sớm được trở lại sát cánh cùng đồng đội (3) .

Nhờ những chiến công thầm lặng nhưng vô cùng quả cảm trong công tác nuôi quân và tiếp đạn thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đồng chí được mệnh danh là "nàng dâu trăm họ" với kỳ tích của một người anh nuôi vĩ đại. Trong 5 năm liên tiếp từ khi nhập ngũ, đồng chí đều được đơn vị bầu là Chiến sĩ thi đua, Chiến sĩ quyết thắng. Với những cống hiến xuất sắc đó, ngày 25/8/1970, đồng chí vinh dự được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, người anh hùng được cử ra Bắc học văn hóa, sau đó tiếp tục trở về đơn vị cũ công tác cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1987. Trong suốt cuộc đời chiến đấu và cống hiến, đồng chí đã được trao tặng 10 bằng khen, 2 Huân chương Kháng chiến hạng Ba cùng hàng chục giấy khen các loại.

Sau một thời gian nghỉ hưu về quê, năm 1995, đồng chí Nguyễn Văn Mão đã hiến tặng những kỷ vật thiêng liêng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình lại cho Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh bảo quản và phát huy giá trị. Theo lời kể của đồng chí, chiếc áo đại cán được cấp phát vào năm 1970, đúng vào thời điểm ông vinh dự đón nhận danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Chiếc áo đã đồng hành cùng ông suốt những năm tháng tiếp theo của cuộc kháng chiến và giai đoạn công tác sau ngày hòa bình lập lại.

Áo đại cán thuộc trang phục thường được may cấp phát cho hàng ngũ sĩ quan có cấp bậc của Quân đội nhân dân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ, có kích thước dài 63cm, rộng 42cm. Áo dài tay, cổ bẻ lật, may bằng chất liệu vải kaki màu xanh quân nhu, bền chắc, phù hợp với điều kiện hành quân và chiến đấu dã chiến. Thân trước của áo đính 03 cúc nhựa màu xanh đen dọc theo nẹp mở ngực. Áo được thiết kế kiểu 4 túi hộp tiện dụng, 02 túi nhỏ phía trên ngực và 02 túi lớn hơn ở phía dưới. Nắp túi cắt góc lượn hình cánh én. Trên hai vai có may đỉa vai phụ (dùng để gài cấp hiệu). Ống tay áo có măng-sét (bo bản rộng) chắc chắn. Thân sau xẻ đôi ở phía dưới. Toàn bộ bề mặt vải đã sờn cũ, ngả màu và có một vết rách ở vùng nách bả vai phía bên phải.

 

Kỷ vật chiếc áo đại cán của anh hùng LLVT Nguyễn Văn Mão 

Kỷ vật thứ hai, song hành cùng chiếc áo đại cán, là chiếc mũ cối đã cùng anh hùng LLVT Nguyễn Văn Mão trải qua hàng nghìn chuyến vận chuyển cơm nước, đạn dược trên mặt trận Quảng Bình, Quảng Trị. Mũ cối có đường kính 35cm x 25,5cm với dáng vòm tròn truyền thống, vành rộng xòe nhẹ vừa phải có tác dụng che nắng, cản mưa cho ông trên đường hành quân và làm nhiệm vụ. Cốt mũ cứng, phía ngoài bọc một lớp vải dệt sợi thô màu xanh quân nhu dã chiến. Trên đỉnh mũ thiết kế núm thông hơi bằng nhựa bọc vải, dập hình bông hoa bốn cánh giúp lưu thông không khí. Xung quanh thân mũ có các lỗ thông gió nhỏ viền kim loại. Quai mũ được làm bằng da. Bề mặt lớp vải bọc ngoài của mũ đã bạc màu mạnh, loang lổ vết ố vàng và vết mốc thời gian do quá trình sử dụng chiến đấu lâu ngày dưới thời tiết khắc nghiệt của chiến trường chống Mỹ.

 

Kỷ vật chiếc mũ cối của anh hùng LLVT Nguyễn Văn Mão

Chiếc áo đại cán và chiếc mũ cối không đơn thuần là những hiện vật tĩnh lặng nằm sau tủ kính bảo tàng. Chúng không chỉ minh chứng cho một cuộc đời cống hiến trọn vẹn, từ một người "anh nuôi" vĩ đại đến một sĩ quan mẫn cán khi trở về đời thường, mà còn là chứng tích bằng vật chất, chứa đựng hơi thở, mồ hôi, máu và cả những khát vọng hòa bình độc lập của một thế hệ anh hùng. Những dấu vết sờn rách, ố vàng trên hai kỷ vật ấy chính là những nét chạm khắc đi vào lịch sử, nhắc nhở hậu thế về cái giá của hòa bình và sự vĩ đại từ những điều bình dị nhất.

Giữa dòng chảy của cuộc sống đương đại, những kỷ vật kháng chiến của Anh hùng Nguyễn Văn Mão vẫn vẹn nguyên giá trị lịch sử, góp phần làm dày thêm truyền thống cách mạng của đất học xứ Nghệ, đồng thời là lời giáo dục di sản sâu sắc, khơi dậy lòng tự hào và khát vọng cống hiến cho những thế hệ mai sau. Tên tuổi của đồng chí, cùng với chiếc áo sờn vai và chiếc mũ cối loang lổ ấy sẽ luôn được gìn giữ như một biểu tượng đẹp đẽ về tinh thần hy sinh thầm lặng nhưng bất tử của dân tộc Việt Nam.

                                                                               Đinh Thị Ánh Tuyết

                                                                Phòng Sưu tầm- Kiểm kê- Bảo quản

Tài liệu tham khảo:

- Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh, Hồ sơ khoa học hiện vật: Áo đại cán và Mũ cối của Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Mão (lưu trữ tại kho Kiểm kê - Bảo quản).

- Cục Tuyên huấn – Tổng cục Chính trị (1972), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam (Tập truyện ký về các chiến sĩ được tuyên dương ngày 25/8/1970), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

- Trung đoàn Pháo cao xạ 214 (Quân khu 4), Lịch sử Trung đoàn Pháo cao xạ 214 (1954 - 2004), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.

Chú thích:

(1), (2), (3) : Lời kể của anh hùng LLVT Nguyễn Văn Mão.

 

 

Video