68
241
1789
97923
67172
7547627
Đồng chí Nguyễn Đình Kiệp sinh năm 1943 ở xã Nghi Thu, thị xã Cửa Lò (nay là phường Cửa Lò), tỉnh Nghệ An. Tháng 10 năm 1963, khi vừa tròn 20 tuổi, anh lính trẻ Nguyễn Đình Kiệp rời quê nhà lên đường vào Nam nhập ngũ, đến tháng 6 năm 1965 thì được bổ sung vào Tiểu đoàn 27 Công vệ của Mặt trận Tây Nguyên. Sau chiến dịch Mậu Thân, đồng chí được điều động về làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 66 (Mặt trận Tây Nguyên).

Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Đình Kiệp
Đầu năm 1972, căn cứ Tân Cảnh (còn gọi là căn cứ 42) được Mỹ - ngụy củng cố xếp thành tuyến phòng ngự mạnh nhất phía bắc Kon Tum. Nằm trên diện tích rộng tới 240.000m² với hình lục lăng kiên cố, bên trong căn cứ chia làm 13 phân khu với hệ thống lô cốt, hầm ngầm liên hoàn. Xung quanh cứ điểm được bao bọc bởi 8 đến 14 lớp hàng rào kẽm gai gài dày đặc mìn chống tăng, mìn sát thương và mìn chiếu sáng. Lực lượng địch bố trí tại đây tương đương một sư đoàn tăng cường gồm Sở chỉ huy Sư đoàn 22, khu cố vấn Mỹ, các trung đoàn bộ binh, thiết giáp, pháo binh với quân số khoảng 1.500 lính.
Trước một trung tâm đề kháng sừng sỏ như vậy, Đảng ủy và Bộ tư lệnh Cánh Đông quyết định giao nhiệm vụ tiêu diệt căn cứ Tân Cảnh cho Trung đoàn 66 gồm 3 tiểu đoàn và 8 đại đội trực thuộc do đồng chí Phùng Bá Thường là Trung đoàn trưởng, Chính uỷ là đồng chí Lưu Quý Ngữ chỉ huy, phối hợp cùng các đơn vị tăng cường gồm Tiểu đoàn 37 đặc công, 1 đại đội xe tăng T54 và 1 đại đội hỏa tiễn B72. Đêm 21/4/1972, các chiến sĩ bộ binh ta bắt đầu len lỏi qua hệ thống chốt điểm dày đặc của địch để áp sát vị trí chiếm lĩnh trận địa.
Lúc 8 giờ ngày 22/4/1972, pháo binh chiến dịch của ta đồng loạt nổ súng bắn phá chính xác xuống sở chỉ huy Sư đoàn 22 ngụy, khu cố vấn Mỹ, khu truyền tin và phá hủy hầu hết hệ thống lô cốt vòng ngoài. Chớp thời cơ địch đang hoảng loạn, chỉ huy Trung đoàn 66 ra lệnh cho Tiểu đoàn 9 tiến công tiêu diệt Tiểu đoàn 2 ngụy ở Đồi Chùa và khu trường học, mở rộng hành lang cho ta đưa pháo và xe tăng tiến vào hướng chính.
Đêm 23/4/1972, mũi đột kích gồm 9 xe tăng T54 thọc qua quận lỵ Đắk Tô hướng thẳng về thị trấn Tân Cảnh. Đến 4 giờ 55 phút ngày 24/4/1972, Tiểu đoàn 9 cùng lực lượng vũ trang tỉnh Kon Tum đã bao vây và giải phóng hoàn toàn thị trấn.
Cùng lúc đó, trận chiến quyết định nổ ra vô cùng ác liệt tại hướng Đông – hướng tiến công chủ yếu của chiến dịch, các chiến sỹ Đại đội 3 (Tiểu đoàn 7) cùng với đồng chí Nguyễn Đình Kiệp đảm nhiệm đã dũng cảm ôm bộc phá đánh tung hàng rào kẽm gai cuối cùng. Mặc cho máy bay địch điên cuồng trút bom bi, bom xăng khiến nửa quân số hy sinh, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp vẫn kiên cường bám trụ trận địa. Trên hướng Tây Bắc, các chiến sỹ tiểu đoàn 8 cũng kiên cường chiến đấu, đánh phá hàng rào địch. Ở hướng Nam, tiểu đoàn 37 đặc công bí mật cắt rào mở hai cửa phụ.
Đến 5 giờ 10 phút ngày 24/4/1972, sau đợt pháo kích cuối cùng, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp cùng đồng đội đồng loạt vượt qua các cửa mở tràn vào bên trong căn cứ. Đạn pháo xe tăng, đạn B40 và thủ pháo của bộ binh phá sập từng lô cốt, đập tan chất độc hóa học, hơi cay của địch để hội quân tại sở chỉ huy vào lúc 9 giờ sáng. Nhiều cán bộ, chiến sỹ ta đã hy sinh. Đúng 11 giờ ngày 24/4/1972, Trung đoàn 66 hoàn toàn làm chủ căn cứ Tân Cảnh, cắm cao lá cờ giải phóng lên nóc hầm sở chỉ huy Sư đoàn 22 ngụy. Tư lệnh Sư đoàn 22, Đại tá Lê Đức Đạt bị diệt tại trận, Phó tư lệnh bị bắt sống. Bộ tư lệnh Cánh Đông ra lệnh cho đơn vị nhanh chóng tiến công chiếm sân bay Phượng Hoàng và căn cứ Đăk Tô 2 do Trung đoàn 47 ngụy chốt giữ. Tuyến phòng ngự Đăk Tô - Tân Cảnh của địch nhanh chóng bị đánh sập hoàn toàn.
Chiến thắng Tân Cảnh đã giải phóng một khu vực rộng lớn ở phía Bắc tỉnh Kon Tum, mở ra địa bàn quan trọng, tạo thế và lực cho các lực lượng vũ trang Tây Nguyên mở rộng vùng giải phóng trong những năm tiếp theo. Sau khi làm chủ căn cứ Tân Cảnh, giữa đống đổ nát ngổn ngang của một binh đoàn ngụy sụp đổ, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp đã tự tay thu giữ một chiến lợi phẩm đặc biệt: Một chiếc bi đông của lính Mỹ bị bỏ lại. Chiếc bình bằng nhôm có phom dáng hình trụ vững chãi, miệng nhỏ, quanh thân có một vòng gờ nổi rõ. Đối với đồng chí, chiếc bình không chỉ đơn thuần là dụng cụ đựng nước qua những chặng đường hành quân rát bỏng ruột gan của nắng gió Tây Nguyên, mà nó là minh chứng, là chứng tích cho ngày chiến thắng oanh liệt của Trung đoàn 66 tại "vành đai thép".

Bi đông của đồng chí Nguyễn Đình Kiệp thu được trong trận đánh Tân Cảnh năm 1972
Năm 1974, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp giữ chức vụ Trung đoàn trưởng Trung đoàn 66, được điều động lên Tây Nguyên để trực tiếp đánh giặc. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp nhận lệnh đánh Buôn Ma Thuột vào đêm ngày 9/4/1975, đồng chí đã chỉ huy phối hợp các lực lượng binh chủng hợp thành đánh thẳng vào căn cứ Đức Lập của ngụy quân Sài Gòn đang chiếm đóng tại đây và đến rạng sáng ngày mồng 10 thì ta làm chủ hoàn toàn căn cứ này.
Từ đây, Trung đoàn 66 dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Đình Kiệp tiếp tục cơ động về phía Tây của mặt trận, theo đường 21 đánh vào các căn cứ Khánh Dương, Chư Cúc, đèo Phượng Hoàng và sân bay Hòa Bình để mở đường vào các tỉnh phía Nam.
Lúc hành quân vào đến Khánh Hòa thì đồng chí Nguyễn Đình Kiệp được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Sư đoàn 10, Quân đoàn 3 (Mặt trận Tây Nguyên cũ), làm nhiệm vụ mở đường mới cơ động đánh chiếm cầu Bông và cầu Súng, là điểm giao thông trọng yếu nằm ở phía bắc Hóc Môn, một trong những cửa ngõ quan trọng để tiến vào nội thành Sài Gòn. Trong 2 ngày 26 và 27/4/1975, Sư đoàn 10 đã đánh chiếm được hai căn cứ này.
Rạng sáng ngày 28/4/1975, dưới sự chỉ huy của đồng chí Nguyễn Đình Kiệp, Sư đoàn 10 nhận nhiệm vụ đánh vào sân bay Tân Sơn Nhất và Tổng tham mưu ngụy quyền Sài Gòn. Đúng 4 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, Sư đoàn 10 được lệnh khai hỏa. Sau đó, các trận địa pháo lớn của Quân đoàn 3 gầm lên trút bão lửa xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Ngay từ những phút đầu, ba mục tiêu địch trong sân bay bốc cháy. Đến 8 giờ 30 phút, các mục tiêu như: Bộ tư lệnh dù, Bộ tư lệnh không quân, Bộ tư lệnh thiết giáp của nguỵ… đều chìm trong khói lửa, địch hoang mang dao động. Đến trưa 30/4/1975, quân ta hoàn toàn làm chủ sân bay Tân Sơn Nhất. Đến 11 giờ ngày 30/4/1975, Trung đoàn 28 của Sư đoàn 10 cũng đã hoàn thành nhiệm vụ khi cắm được lá cờ đỏ sao vàng phấp phới lên nóc Tổng tham mưu ngụy quyền Sài Gòn.
Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, ngày 12/9/1975, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân khi mới ngoài 30 tuổi.
Sau chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp được điều động đi học bổ túc tại Đà Lạt và nhờ lớp học này mà đồng chí gặp một nửa của cuộc đời mình. Bà là Trần Thị Minh, là cán bộ miền Bắc tập kết làm nhiệm vụ tại đây. Bà Minh quê ở Nam Đàn (Nghệ An), là cử nhân có trình độ nên sau ngày giải phóng được điều động tăng cường vào Nam, làm cán bộ tại huyện Đức Trọng (Lâm Đồng) để giúp bà con nơi đây ổn định chính quyền.
Đến giữa năm 1977, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp tham gia lớp học cao cấp tại học viện Quốc phòng ở Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Học viện cấp cao, đồng chí Nguyễn Đình Kiệp trở về làm Sư trưởng Sư đoàn 341 Quân khu 4, làm Phó hiệu trưởng trường Quân chính Quân khu 4, Phó chỉ huy quân sự tỉnh Nghệ Tĩnh và Chánh thanh tra Quốc phòng trước khi nghỉ hưu vào năm 2012 với quân hàm Đại tá.
Cuộc đời của Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Đình Kiệp là hành trình gắn liền với những chiến dịch lớn của dân tộc, từ chiến trường Tây Nguyên đến chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Mỗi cương vị đảm nhiệm đều ghi dấu bản lĩnh của một người chỉ huy mưu trí, dũng cảm và tận tụy. Chiếc bi đông đựng nước đã theo chân vị anh hùng Nguyễn Đình Kiệp suốt chặng đường chiến đấu từ năm 1972 đến năm 1975, trở thành một phần ký ức chiến tranh, ghi dấu những tháng ngày không thể nào quên.