1338
47
2009
50613
30822
7515628
Theo Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 03/02/2026 về việc công nhận bảo vật quốc gia của Thủ tưởng chính phủ (đợt 14 gồm 30 hiện vật, nhóm hiện vật), tỉnh Nghệ An vinh dự có 1 hiện vật và 1 sưu tập hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia. Đặc biệt, Bảo tàng Nghệ An- Xô Viết Nghệ Tĩnh tự hào là nơi lưu giữ, bảo quản và phát huy giá trị của nhóm hiện vật là bảo vật quốc gia. Đó là 5 năm chiếc trống trong sưu tập trống Làng Vạc - là những sản phẩm thể hiện đỉnh cao của kỹ thuật đúc đồng và nghệ thuật trang trí của văn hoá Đông Sơn và văn minh Việt cổ. Đây là nhóm hiện vật tiêu biểu thuộc văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam.
Sưu tập trống đồng Làng Vạc gồm có 5 hiện vật, với các đặc điểm sau:
- Trống Làng Vạc I: thuộc dòng trống thấp lưng choãi. Trống có tang phình, lưng hình nón cụt, choãi dần xuống phía dưới, chân trống thấp. Trống có 2 đôi quai kép, mỗi đôi có một khe hở ở giữa, trên quai trang trí hoa văn dạng thừng bện. Trống có patin màu xanh rỉ đồng.
Chính giữa mặt trống là hình ngôi sao 12 cánh. Xen giữa là các cánh là hình chữ V lồng nhau hay lông công cách điệu. Tính từ trong ra ngoài, bao quanh ngôi sao trung tâm có 8 vành hoa văn: vành 1, 4, 8 là những hàng chấm nổi; vành 2, 6 là hoa văn vòng tròn kép có chấm nổi ở giữa; vành 5, 7 là hoa văn răng cưa, xen giữa có 3 chấm nổi. Vành 3 là vành hoa văn quan trọng nhất, với 4 hình chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Chim có mào và mỏ dài, mắt là một vòng tròn có chấm nổi ở giữa. Đuôi và thân chim tạo thành một hình gần giống tam giác, bên trong có những đường vạch ngắn và chấm nổi. Hai cánh chim xòe ngang. Cánh có hình tam giác, bên trong có những vạch ngắn song song. Các hoa văn hình chim này đều được đúc chìm.
Trên tang trống, từ trên xuống dưới có 6 băng hoa văn như sau: băng 1, 5 là hoa văn chấm nổi; băng 2, 4 là hoa văn răng cưa, xen giữa có 3 chấm nổi; băng 3 là hoa văn vòng tròn tiếp tuyến có chấm nổi ở giữa. Băng 6 là băng hoa văn chủ đạo, thể hiện 4 chiếc thuyền di chuyển ngược chiều kim đồng hồ. Thuyền có dáng thon dài, đuôi thẳng, thân thuyền có những đường vạch ngắn song song. Trên mỗi thuyền có 4 người ngồi nhưng chỉ có 3 người chèo, người ngồi thứ ba (tính từ mui thuyền) không chèo, dáng ngồi bệ vệ. Phía sau đầu mỗi người có búi tóc hoặc buộc khăn hình tam giác. Trang trí phần mũi của từng chiếc thuyền không giống nhau: một chiếc ở mũi thuyền có vòng tròn có chấm giữa, đầu mũi được chia thành hai nhánh, nhánh rộng hơn có những đường vạch ngắn. Một chiếc thuyền khác ở mũi thuyền được chia làm 3 nhánh, nhánh phía trước có những đường vạch ngắn. Trên hai thuyền còn lại, đầu mũi được chia làm 3 nhánh nhưng bên trong không có đường vạch ngắn.
Hoa văn trên lưng trống gồm 2 phần: phần trên là những ô hoa văn theo chiều dọc, phần dưới là những băng hoa văn theo chiều ngang. Trong 8 ô dọc, mỗi ô có 1 con bò, đứng nối đuôi nhau theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, cứ hai con đực lại đến hai con cái. Bò có sừng cong hình trăng khuyết, u vai nổi cao, chân choãi về đằng trước, đuôi dài. Trên thân bò trang trí không giống nhau: có 4 con bò liền nhau ở trên thân trang trí những vòng tròn có chấm giữa và tiếp tuyến, 4 con bò liền nhau còn lại ở trên thân trang trí vạch ngắn song song kết hợp chấm nổi. Xen giữa các ô hình chữ nhật trang trí hình bò là những ô hẹp hơn trang trí hoa văn những đường vạch ngắn song song, vòng tròn tiếp tuyến và những hàng chấm nổi. Phía dưới các ô hoa văn dọc này là 5 băng hoa văn trang trí theo chiều ngang, lần lượt từ trên xuống dưới gồm: chấm nổi - răng cưa - vòng tròn tiếp tuyến - răng cưa - chấm nổi. Toàn bộ hoa văn trên tang và lưng trống đều được đúc nổi.
Chân trống không trang trí hoa văn.
Ảnh: Trống đồng Làng Vạc I
- Trống Làng Vạc II: cũng như trống Làng Vạc I, trống Làng Vạc II thuộc dòng trống thấp lưng choãi, với tang phình, thân hình nón cụt loe dần xuống dưới, chân trống thấp. Trống có 2 đôi quai bố trí cách đều nhau ở hai bên thân, mỗi quai được trang trí hai dải hoa văn hình bông lúa. Trống có patin màu xanh rỉ đồng.
Giữa mặt trống là ngôi sao trung tâm 10 cánh, giữa các cánh có hoa văn hình chữ V lồng hay lông công cách điệu. Tính từ trong ra ngoài, bao quanh ngôi sao trung tâm có 6 vành hoa văn: vành 1, 2, 4 và 6 là hoa văn chấm nổi; vành 3 và 5 là hoa văn răng cưa, xen kẽ giữa các răng là hình chấm nổi.
Tang trống có 3 băng hoa văn, chia làm hai phần trên dưới. Phần trên là 2 băng răng cưa ngược chiều nhau, ngăn cách bởi một đường chỉ nổi. Phần dưới là băng hoa văn chủ đạo, trang trí hình thuyền và chim xen kẽ. Có bốn chiếc thuyền bơi theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, thân thuyền cong, có những chấm nổi nhỏ. Đuôi thuyền xòe ra hình nan quạt. Mũi thuyền được chia ra làm ba nhánh, nhánh thứ ba to có hình gần giống hình tam giác, bên trong trang trí hoa văn vạch ngắn và chấm tròn. Mũi thuyền có một vòng tròn có chấm giữa. Ở trên thuyền có ba người ngồi tư thế co chân, hai tay đưa ra cầm mái chèo, tóc hình đuôi ngựa. Xen giữa những chiếc thuyền là hình 6 con chim đang đứng. Chim có mỏ dài, mắt được tạo thành từ các vòng tròn có chấm. Đuôi chim xòe rộng, có hoa văn vạch ngắn. Thân chim có chấm nổi. Hoa văn hình thuyền và hình chim đều được đúc chìm.
Lưng trống không có các hoa văn tả thực mà chỉ có hoa văn răng cưa được bố trí theo các ô dọc hoặc băng ngang, chia làm hai phần: phần trên là 8 khung hình chữ nhật đứng, ở mỗi khung có hai dải hoa văn hình răng cưa ngược chiều nhau, ngăn cách bởi một đường chỉ nổi; phần dưới là 2 băng hoa văn răng cưa ngược chiều nhau, ngăn cách bởi một đường chỉ nổi.
Chân trống không trang trí hoa văn.
Ảnh: Trống đồng Làng Vạc II
- Trống Làng Vạc III: thuộc dòng trống thấp lưng choãi, với tang phình, lưng hình nón cụt choãi dần xuống dưới. Trống có 2 đôi quai bố trí ở hai bên thân, mỗi quai được trang trí hai hàng hoa văn bông lúa. Pa tin màu xanh rỉ đồng.
Giữa mặt trống là hình ngôi sao 10 cánh, giữa các cách là những đường vạch chéo ngắn. Tính từ trong ra ngoài, bao quanh ngôi sao trung tâm là 3 vành hoa văn: vành 1 có 4 hình chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Chim cổ dài, mỏ có hình chữ V, giữa cổ có một đường gân nổi. Đuôi và thân chim tạo thành một hình giống hình tam giác, bên trong có những đường rạch ngắn. Cánh chim xòe ngang ra thành hình thang, bên trong có những vạch ngắn. Vành 2, 3 là hai vành hoa văn răng cưa ngược chiều nhau, xen kẽ giữa các răng có 1 hoặc 2 chấm nổi.
Ở phần tang trống trang trí 2 băng hoa văn răng cưa ngược chiều nhau. Lưng trống chia làm hai phần: phần trên là 8 khung hình chữ nhật bố trí theo chiều dọc của thân trống, trong mỗi khung trang trí những đường gạch chéo song song với nhau như hình sống lá; phần dưới là hai băng hoa văn răng cưa ngược chiều nhau.
Chân trống không trang trí hoa văn.
Ảnh: Trống đồng Làng Vạc III
- Trống Làng Vạc IV: thuộc dòng trống cao lưng thẳng. Trống có tang phình, thân hình trụ tròn, chân choãi cao. Trống có 2 đôi quai kép, bố trí cách đều nhau ở hai bên thân. Mặt quai trang trí hoa văn thừng bện kết hợp với các đường chỉ nổi nằm ngang. Pa tin màu xanh rỉ đồng.
Chính giữa mặt trống là hình ngôi sao 12 cánh, giữa các cánh là hoa văn chữ V lồng kết hợp với vòng tròn đồng tâm chấm giữa - một dạng của lông công cách điệu. Tính từ trong ra ngoài, bao quanh ngôi sao trung tâm có 9 vành hoa văn: vành 1, 5 là hoa văn chấm nổi. Vành 2, 4 và 8 là những vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa. Vành 3 là hồi văn chữ S cách điệu. Vành 7, 9 là những đường vạch ngắn song song. Vành 6 là vòng hoa văn quan trọng nhất, có hình bốn con chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Chim có mào cổ dài, mỏ hình chữ V. Mắt hình tròn có chấm giữa, thân và đuôi chim hợp lại thành một hình gần giống tam giác, bên trong có những đường vạch ngắn. Cánh chim xòe ngang, đầu cánh hơi cụp. Cánh chim được trang trí những đường vạch ngắn song song.
Tang và lưng trống không có hoa văn tả thực mà chỉ có những hoa văn hình học đơn giản. Trên tang trống có 3 băng hoa văn, gồm 1 băng vòng tròn tiếp tuyến chấm giữa nằm kẹp giữa hai băng vạch ngắn song song. Lưng trống chia thành các ô hình chữ nhật dọc, ngăn cách nhau bởi những dải hoa văn vạch chéo song song. Phía dưới các ô dọc này là 3 băng hoa văn theo băng ngang, tương tự như trên tang trống, gồm hai băng vạch ngắn song song, ở giữa là một băng vòng tròn tiếp tuyến.
Chân trống không trang trí hoa văn.
Ảnh: Trống đồng Làng Vạc IV
- Trống minh khí: có hình dáng tương tự trống Làng Vạc I, II, III, thuộc dạng trống thấp lưng choãi. Trống có tang phình, thân hình nón cụt, loe dần xuống dưới, chân trống thấp. Trống có 2 đôi quai kép ở hai bên thân. Chính giữa mặt trống cũng gắn một quai tương tự để làm móc treo. Tuy nhiên, trong khi quai ở thân được đúc liền, thì quai trên mặt trống được gắn vào sau khi đúc.
Trống có hoa văn trang trí hài hòa, sắc nét. Mặt trống vẫn thể hiện ngôi sao 12 cánh, xen giữa các cánh là các đường vạch chéo song song. Bao quanh ngôi sao là một vành vạch ngắn song song.
Tang trống có một băng vạch ngắn song song nằm giữa hai đường chỉ chìm.
Lưng trống chia thành 6 ô hình chữ nhật theo chiều dọc, trong đó 4 ô có hình thú đuôi dài (cáo), 2 ô có hình chó, nối đuôi nhau theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Giữa các ô được ngăn cách với nhau bởi một khung hẹp trang trí hoa văn hình xương cá. Bên dưới các ô hoa văn chủ đạo này là một băng vạch chéo song song.
Chân trống không trang trí hoa văn.
Ảnh: Trống Minh khí
Về mặt kỹ thuật chế tác, có thể thấy năm chiếc trống Làng Vạc được đúc bằng hai phương pháp khác nhau là phương pháp ghép khuôn nhiều mang và phương pháp sáp chảy. Tuy cùng được đúc bằng phương pháp ghép khuôn nhiều mang, nhưng kỹ thuật tạo hoa văn trên từng trống lại có sự khác biệt khá rõ nét. Quan sát kỹ các hoa văn trang trí trên các trống Làng Vạc, có thể thấy tất cả hoa văn hình học đều được đúc nổi, còn các hoa văn tả thực như hình người, hình thuyền, hình chim, hình bò… lại được thể hiện chìm nổi khác nhau trên từng trống.
Cả 5 chiếc trống đồng Làng Vạc đều là hiện vật gốc, được phát hiện qua khai quật tại di tích Làng Vạc, với bối cảnh khảo cổ học rõ ràng. Những chiếc trống này đã được nhiều chuyên gia về văn hóa Đông Sơn nghiên cứu, đánh giá, kiểm tra niên đại và đều thống nhất cho rằng đây là những chiếc trống Đông Sơn tiêu biểu. Các phân tích về thành phần hợp kim cũng hoàn toàn chỉnh hợp với thành phần hợp kim của các hiện vật thuộc văn hóa Đông Sơn đã phát hiện ở Việt Nam. Năm chiếc trống đồng Làng Vạc còn tương đối nguyên vẹn, với hình dáng cân đối, hài hòa, hoa văn trang trí phong phú, sắc nét, cho đến nay chưa có tổ chức hay cá nhân nào ở Việt Nam lưu giữ hay sở hữu hiện vật tương tự. Do đó, sưu tập trống đồng Làng Vạc là hiện vật độc bản.
Không chỉ đặc biệt về bối cảnh phát hiện, tính độc đáo của sưu tập trống đồng Làng Vạc còn thể hiện ở sự phong phú về loại hình của nó. Trong sưu tập trống đồng Làng Vạc, có sự hiện diện của cả hai dòng trống Đông Sơn cơ bản, đó là trống thấp lưng choãi và trống cao lưng thẳng, gồm 4 trống lớn và 1 trống minh khí. Điều đáng chú ý là, nếu xét trên tổng thể, dòng trống cao lưng thẳng là dòng trống phổ biến của văn hóa Đông Sơn (tỉ lệ khoảng 80%), thì ở Làng Vạc, loại trống chủ yếu lại là trống thấp lưng choãi, và điều này góp phần tạo nên những đặc trưng riêng biệt của di tích Làng Vạc.
Trong 4 chiếc trống lớn của sưu tập Làng Vạc, trống Làng Vạc I và Làng Vạc II được các nhà nghiên cứu xếp vào nhóm A, còn trống Làng Vạc III và Làng Vạc IV được xếp vào nhóm B. Đây là 2 nhóm trống được cho là có niên đại sớm và được trang trí đẹp nhất trong các nhóm trống Đông Sơn, khi các hoa văn tả thực chưa bị cách điệu hóa. Đại diện tiêu biểu của sưu tập trống Làng Vạc là trống Làng Vạc I, với các hoa văn trang trí phong phú, sắc nét. Về mặt hình dáng, kích thước và hoa văn trang trí, trống Làng Vạc I có thể so sánh với một số trống đẹp nhất của dòng trống thấp lưng choãi, ví dụ như trống Quảng Chính - bảo vật quốc gia năm 2020. Ở cả trống Làng Vạc I và trống Quảng Chính đều có 4 hình chim trên mặt, nhưng điều khác biệt là hình chim trên trống Quảng Chính bay thuận chiều kim đồng hồ, còn trên trống Làng Vạc I là bay ngược chiều kim đồng hồ. Trên tang trống Quảng Chính và Làng Vạc I đều có hình thuyền, nhưng ở trống Quảng Chính là đúc chìm, còn ở Làng Vạc I là đúc nổi. Một khác biệt nữa đó là trong các ô dọc ở lưng trống Quảng Chính có hình chim đứng, thì ở trống Làng Vạc là 8 hình bò. Đây cũng là một điểm độc đáo trong trang trí của trống Làng Vạc. Trong số khoảng hơn 20 trống dáng thấp lưng choãi phát hiện ở Việt Nam, cho đến nay mới chỉ có khoảng 7 trống là có trang trí hình bò (như Đồi Ro, Đồng Cẩu, Động Xá…), trong đó hầu như chưa từng gặp trống nào có cách bố trí 1 cặp bò đực xen kẽ với 1 cặp bò cái như ở trống Làng Vạc I.
Chiếc trống minh khí của sưu tập trống Làng Vạc cũng là một trong những chiếc trống minh khí đẹp nhất của văn hóa Đông Sơn. Trong các trống minh khí đã phát hiện ở Việt Nam, nếu như hầu hết trống đều có trang trí ngôi sao nhiều cánh ở trên mặt, thì ở phần lưng trống thường không có hoa văn hoặc trang trí hoa văn hình học đơn giản. Trong khi đó, chiếc trống minh khí của sưu tập Làng Vạc lại được trang trí cả hình thú đuôi dài và hình chó săn ở trên lưng trống. Có thể nói, đây là chiếc trống minh khí duy nhất hiện biết được trang trí đặc biệt như vậy.
Trong một bối cảnh rộng hơn, sưu tập trống đồng Làng Vạc có thể so sánh với nhóm trống thuộc loại hình Thạch Trại Sơn của văn hóa Điền ở Vân Nam. Những chiếc trống Thạch Trại Sơn cũng có dáng thấp lưng choãi, với hoa văn trang trí hình thuyền, hình chim, hình bò… có nhiều nét tương đồng với Làng Vạc. Tuy nhiên, khi đi sâu vào các chi tiết hoa văn hay các hoạt cảnh trang trí, có thể nhận ra sự khác biệt giữa trống Thạch Trại Sơn và trống Làng Vạc. Như vậy, có thể nói rằng, trong hệ thống văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam nói riêng và trên bình diện khu vực nói chung, sưu tập trống đồng Làng Vạc thực sự là những hiện vật có hình thức độc đáo, hiếm lạ chưa từng gặp.
Sưu tập trống đồng Làng Vạc còn có giá trị đặc biệt về lịch sử và văn hóa, và những giá trị này có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời với vị thế của địa điểm Làng Vạc nói riêng và với văn hóa Đông Sơn nói chung.
Là một nền văn hóa phát triển trên cơ sở hội nhập và thống nhất của các văn hóa giai đoạn Tiền Đông Sơn trước đó, văn hóa Đông Sơn đã phát triển tới đỉnh cao nhất của thời đại Kim khí. Có thể nói, kỹ thuật luyện kim và đúc đồng của văn hoá Đông Sơn đã đạt tới một trình độ điêu luyện đáng kinh ngạc, với sự thuần thục cả hai phương pháp đúc cơ bản là ghép khuôn nhiều mang (pieced-mould method) và sáp chảy (lost-wax method). Sưu tập trống đồng Làng Vạc, với sự phong phú về loại hình và chức năng, là bằng chứng phản ánh rõ nét trình độ đúc đồng bằng phương pháp ghép khuôn nhiều mang và phương pháp sáp chảy của cư dân Đông Sơn. Với hình dáng cân đối, hoa văn trang trí hài hoà, đẹp mắt, sưu tập trống đồng Làng Vạc chính là một bằng chứng rất sinh động và tiêu biểu cho sự phát triển đỉnh cao của kỹ nghệ đúc đồng của cư dân Việt cổ.
Không chỉ là bằng chứng đỉnh cao về kỹ thuật và nghệ thuật của văn hóa Đông Sơn, sưu tập trống đồng Làng Vạc còn góp phần khẳng định vị thế của địa điểm Làng Vạc trong hệ thống văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Địa điểm khảo cổ Làng Vạc, với các đặc trưng về di tích, di vật, niên đại và các mối quan hệ văn hóa, được các nhà khảo cổ coi là một di tích đặc biệt quan trọng của văn hóa Đông Sơn, và coi đó là đại diện của một loại hình địa phương riêng biệt - loại hình Làng Vạc. Trong tổng thể di tích, di vật phong phú đó, cùng với các hiện vật như dao găm có cán gắn tượng, vòng tay gắn nhạc hay các loại tượng tròn khác…, sưu tập trống đồng nổi lên như những hiện vật quan trọng nhất, góp phần tạo nên đặc trưng riêng biệt của Làng Vạc. Bên cạnh đó, sự hiện diện của trống đồng - biểu tượng của quyền lực và nghi lễ - trong các mộ táng Làng Vạc, cũng góp phần cho thấy Làng Vạc là một trung tâm quyền lực - nghi lễ cấp vùng và liên vùng, chứ không chỉ là một khu cư trú và mộ táng đơn thuần.
Sưu tập trống đồng Làng Vạc còn là một nguồn tư liệu quý giá để nghiên cứu về đời sống vật chất và tinh thần của người Việt cổ thời văn hóa Đông Sơn.
Trước hết, trong bối cảnh phần lớn trống Đông Sơn đều được phát hiện một cách ngẫu nhiên, rời rạc, hoàn toàn thiếu vắng bối cảnh địa tầng, thì việc tìm thấy một nhóm trống Đông Sơn trong mộ táng Làng Vạc với bối cảnh khảo cổ rõ ràng, mang lại những giá trị đặc biệt quan trọng. Việc trống đồng Làng Vạc được tìm thấy trong khu mộ táng, đi kèm với các di vật chỉ thị niên đại đặc trưng của văn hóa Đông Sơn (công cụ, vũ khí, trang sức, đồ gốm…), giúp xác định chắc chắn niên đại thế kỷ 3 - 1 tr. Công nguyên của nhóm trống này. Với mốc định tuổi tin cậy như vậy, sưu tập trống Làng Vạc trở thành cơ sở chuẩn (chronological marker) cho việc xác lập chuỗi phát triển của hệ thống trống Đông Sơn ở Việt Nam, vốn trước đó chỉ dựa trên các đặc điểm về loại hình và phong cách trang trí.
Không chỉ có giá trị trong việc tham chiếu niên đại trống Đông Sơn, sưu tập trống đồng Làng Vạc còn có giá trị kỹ thuật - khoa học thông qua thành phần hợp kim của nó. Kết quả phân tích thành phần hợp kim của 5 chiếc trống đồng Làng Vạc cho thấy sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ các nguyên tố đồng (Cu), thiếc (Sn) và chì (Pb). Các trống Làng Vạc I, IV và trống minh khí có hàm lượng chì tương đối cao (8-15%), trong khi trống Làng Vạc II và III hầu như không chứa chì (0,04-0,06%) nhưng có dấu hiệu vi lượng asen cao hơn. Sự khác biệt rõ ràng này phản ánh việc sử dụng các nguồn kim loại hoặc nguyên liệu luyện không đồng nhất, có thể xuất phát từ những mỏ hoặc nguồn cung khác nhau trong vùng hoặc xa hơn. Từ kết quả đó, có thể nhận định rằng nghề luyện kim ở Làng Vạc không chỉ dựa vào một nguồn quặng duy nhất, mà có khả năng tiếp nhận, trao đổi và xử lý các loại nguyên liệu khác nhau, thể hiện tính mở và năng lực thích ứng kỹ thuật cao của cộng đồng cư dân Đông Sơn ở vùng sông Cả. Đây chính là giá trị khoa học đặc biệt của sưu tập trống đồng Làng Vạc: không chỉ phản ánh trình độ đúc đồng tinh xảo, mà còn cung cấp chứng cứ vật chất cho thấy sự tồn tại của mạng lưới giao lưu - phân phối nguyên liệu kim loại trong không gian văn hóa Đông Sơn thế kỷ 3 - 1 tr. Công nguyên.
Ảnh: Sưu tập Trống đồng Làng Vạc
Sưu tập trống đồng Làng Vạc còn cho chúng ta một cái nhìn sinh động về phong tục mai táng của người xưa. Nghiên cứu sưu tập trống Làng Vạc, có thể thấy hầu hết trống bị đập méo, chọc thủng mặt hoặc tang trước khi được chôn trong mộ táng. Những dấu vết đó cho thấy đây không phải hư hại ngẫu nhiên, mà là hành vi nghi lễ có chủ đích, phản ánh tập tục “giết chết hiện vật” (ritual killing of objects) - một hiện tượng phổ biến trong phong tục mai táng của cư dân Đông Sơn. Trong quan niệm người Việt cổ, các vật thiêng như trống đồng, vũ khí, đồ trang sức… đều mang linh hồn và quyền lực gắn với chủ nhân. Khi người thủ lĩnh qua đời, những vật này được “làm chết” theo - bằng cách chọc thủng, đập méo - để giải phóng linh hồn vật thể, cùng chủ nhân sang thế giới bên kia. Hiện tượng này thể hiện quan niệm về sự sống - cái chết - tái sinh và mối quan hệ linh thiêng giữa con người và vật dụng nghi lễ. Trống đồng Làng Vạc vì thế không chỉ là sản phẩm kỹ thuật và nghệ thuật, mà còn là chứng tích sinh động về đời sống tâm linh phong phú của cư dân Việt cổ.
Một đặc điểm đáng chú ý nữa của sưu tập trống Làng Vạc, đó là việc hình trang trí hình bò đực và bò cái xen kẽ nhau, bố trí theo dải vòng quanh lưng trống. Đây không chỉ là mô tả sinh hoạt tự nhiên, mà mang nội dung biểu trưng rõ rệt về tín ngưỡng phồn thực của cư dân Đông Sơn. Trong thế giới biểu tượng của người Việt cổ, bò là loài vật gắn với nông nghiệp, sức kéo và sự sung túc, đồng thời là hình ảnh của sức mạnh sinh sản. Việc thể hiện bò đực và bò cái xen kẽ, nối đuôi nhau không đơn thuần là mô típ trang trí, mà là biểu tượng của sự giao hòa âm - dương, kết hợp sinh thành, tương ứng với quan niệm vũ trụ cân bằng và chu kỳ tái sinh của sự sống. Sự xuất hiện của mô típ này trong cùng bố cục với mặt trời, chim bay và thuyền càng làm rõ ý nghĩa biểu tượng tổng hợp của trống: mặt trời - ánh sáng, chim - linh hồn, bò - sức sống sinh sản, thuyền - hành trình chu kỳ. Đó là bức tranh vũ trụ quan phồn thực - nơi sự sống được tái tạo liên tục thông qua sự kết hợp của các yếu tố tự nhiên và thần linh. Như vậy, hình tượng bò đực - bò cái trên trống Làng Vạc không chỉ phản ánh môi trường kinh tế - nông nghiệp của cư dân Đông Sơn, mà còn là biểu hiện điển hình của tín ngưỡng phồn thực, một thành tố quan trọng trong hệ thống tư duy nông nghiệp của người Việt cổ.
Sưu tập trống đồng Làng Vạc còn là tư liệu quan trọng để nghiên cứu về sự giao thoa văn hóa hay các mối quan hệ văn trong nội tại văn hóa Đông Sơn, cũng như giữa văn hóa Đông Sơn với vùng Nam Trung Hoa.
Trước hết, sưu tập trống đồng Làng Vạc thể hiện sự giao thoa văn hóa ngay trong nội bộ văn hóa Đông Sơn. Sự hiện diện đồng thời của trống thấp lưng choãi và trống cao lưng thẳng phản ánh mối liên kết giữa hai tiểu vùng văn hóa - miền núi trung du và đồng bằng thấp trũng - vốn cùng nằm trong không gian văn hóa Đông Sơn. Từ lâu, các nhà nghiên cứu trống Đông Sơn đã cho rằng, kiểu trống thấp choãi mang đặc trưng của các cộng đồng Đông Sơn miền núi hoặc bán sơn địa, trong khi trống cao lưng thẳng thể hiện truyền thống kỹ thuật của cư dân Đông Sơn vùng đồng bằng. Việc hai dạng hình thái cùng xuất hiện trong một khu mộ táng cho thấy Làng Vạc là điểm hội tụ và dung hợp giữa hai khu vực văn hóa Đông Sơn khác biệt, minh chứng cho tính đa dạng nội tại và khả năng liên kết vùng mạnh mẽ của văn hóa Đông Sơn.
Ở cấp độ rộng hơn, sưu tập trống đồng Làng Vạc phản ánh mối giao lưu văn hóa và kinh tế giữa văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam và văn hóa Điền ở Vân Nam. Một số yếu tố hình thái và nghệ thuật của trống Làng Vạc - như thân thấp loe, bố cục dải hình học, mô típ động vật - có sự tương đồng với trống Điền, cho thấy quá trình tiếp xúc kỹ thuật và biểu tượng giữa hai khu vực. Tuy nhiên, các trống Làng Vạc vẫn giữ phong cách Đông Sơn rõ nét, với bố cục cân xứng, tiết tấu chặt chẽ và hoa văn sinh động, trong khi các trống Điền dù chịu ảnh hưởng từ Đông Sơn vẫn giữ đặc trưng bản địa Điền, thiên về hình tượng totem và phong cách tạo hình đa tầng.
Điều đó cho thấy mối quan hệ Đông Sơn - Điền là giao lưu hai chiều, bình đẳng và chọn lọc, phản ánh sự tương tác mở trong không gian Đông Nam Á cổ đại, nơi kỹ nghệ đồng thau, biểu tượng nghi lễ và quan niệm vũ trụ được trao đổi và tiếp biến linh hoạt. Sưu tập trống đồng Làng Vạc vì thế không chỉ mang giá trị nghệ thuật và kỹ thuật, mà còn là chứng cứ điển hình cho mối giao thoa văn hóa khu vực giữa lưu vực sông Cả và cao nguyên Vân Nam, góp phần nhận diện vị trí quan trọng của Làng Vạc trong mạng lưới văn hóa Đông Sơn (Bắc Việt Nam) - văn hóa Điền (Nam Trung Quốc).
Việc hiện vật được công nhận là bảo vật quốc gia khẳng định giá trị đặc biệt quý hiếm, độc bản về giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được Nhà nước tôn vinh và bảo vệ nghiêm ngặt. Điều này không chỉ nâng cao vị thế, giá trị kinh tế, giá trị văn hóa mà còn phản ánh sự ghi nhận tư duy sáng tạo của cha ông, khơi dậy niềm tự hào dân tộc, lan tỏa giá trị văn hóa và trách nhiệm bảo tồn di sản cho thế hệ hôm nay và mai sau.
Đinh Ánh Tuyết
Phòng Sưu Tầm - Kiểm kê – Bảo quản